Cái mũ

Cái mũ đã thay cái nón nhiều. Chỉ ở nông thôn hoặc những nơi lao động vất vả, cái nón mới được sử dụng cũng là xu thế thời đại.

 Một thời dài người Việt Nam chỉ cuốn khăn, đội khăn. Đi đâu xa thêm cái nón, cái ô. Người dân thường có nón chóp bằng lá gồi. Người sang hơn, nón lá dừa. Ngay cả anh lính thú, rồi lính khố xanh khố đỏ đội cái nón dấu là nón chóp nhọn, thu nhỏ, sơn màu.

Có lẽ khoảng một thế kỷ nay mới có cái mũ. Xuất xứ của nó ra sao, ai là người du nhập ai là người đội mũ đầu tiên, không thấy nói, ít có tài liệu nào ghi chép.

Từng có thời kỳ, nhìn người đội mũ có thể biết sơ qua người đó thuộc tầng lớp nào.

Người sang, các quan tham, quan phán, đội mũ dạ, còn gọi là mũ phớt, sang nhất là phlết sê – Mốt xăng. Cũng loại này khi rách cũ, anh chàng phở rong hay đội, nên cái mũ ấy được gọi chung là mũ phở.

Công chức loại nhỏ, thầy giáo, học sinh, kể cả một số ông quan huyện trẻ mới ra trường thường đội mũ “cát” trắng, là loại mũ bọc vải trắng hàng ngày cần đánh bằng phấn.

Trước cách mạng Tháng Tám, lớp tri huyện cuối cùng vừa nhậm chức thì cách mạng nổ ra, nhiều người đi theo cách mạng, nên có câu nói chung: quan huyện mũ trắng... để chỉ những người này.

Cùng với cái mũ trắng, có giầy trắng, nên các hàng xén, các hiệu tạp hóa có bán sẵn những viên phấn hình vuông tựa như bao diêm; khi cần đánh giầy mũ thì cạo phấn ra hòa với nước mà đánh. Ở Hà Nội có một số em nhỏ cầu bơ cầu bất, làm nghề đánh giầy đánh mũ, tay sách cái hòm con, trong đựng đủ loại xi nâu, xi đen, và thể nào cũng có mấy viên phấn như thế.

Trước đó nữa, những tên tây thực dân, tây đoan, tây cẩm thường đội mũ “cát” vành to, chỏm sâu, trắng hoặc vàng, đi đâu mũ cũng sùm sụp trên đầu vì chúng chưa quen cái nóng nhiệt đới của nước. Loại mũ đó dân ta thường gọi là “mũ tây đoan”.

Trước năm 1945 ở Hà Nội có trường đua ngựa. Người cưỡi ngựa gọi là “dô kề” (không hiểu vì sao lại có cái nhóm từ “du côn du kề”, chắc là loại người này thường ăn chơi kiểu anh chị?). Họ đội cái mũ vải mềm thường là màu trắng có cái lưỡi trai dài để che nắng. Cái mũ ấy cũng được gọi là “mũ dô kề” ít lâu nay loại mũ này phát triển trở lại, rất phổ biến, có khi chỉ còn là một cái vành quanh đầu để đỡ lấy cái lưỡi trai phía trước là chủ yếu. Mốt mới nhất đấy, tuy vậy, trời nắng, cái lưỡi trai quả là rất tác dụng để bảo vệ đôi mắt rất tốt.

Mũ “be rê” có đã lâu. Người ta thường gọi là mũ nồi. Người lớn đội mũ màu đen, trẻ em đội nhiều màu khác nhau. Cái mũ nồi có giá trị khi trên chỏm còn một cái đuôi bé tí tẹo như đuôi chuột. Nhiều người hay đội lệch hẳn sang một bên, như thế mới là chơi sang, là công tử, dù rằng có câu “ai đội mũ lệch người ấy xấu”, câu này thường được hiểu theo nghĩa bóng nhiều hơn.

Kháng chiến chống pháp có loại mũ lá, làm theo kiểu mũ cát, nhưng chỉ toàn là tre lá thay vải. Thường trên phủ dưới để gài lá ngụy trang cho dễ. Nó đã đi vào lịch sử, đi vào thơ ca một thời, thành kỷ niệm không quên của bao người.

Sau này nó được cải tiến, lõi cứng, không phải bằng li - e, bằng cây dút dại, cũng không phải bằng mùn cưa ép, có thể ngồi lên nó thay cho ghế mà không bẹp. Có thời kỳ loại “mũ cối” này rất đắt, có những thanh niên chuyên đi cướp giật mũ cối, hoặc dùng nó làm vũ khí đánh nhau, nó cứng hơn búa.

Sau 1954, cán bộ Khu Năm tập kết ra bắc khá nhiều. Rất nhiều làm ở ngành đường sắt, nhất là các phòng thuế. Không ai bảo ai, không ai bắt buộc phải có đồng phục, vậy mà hầu như anh nào cũng có “mũ cát” có “bo” rất dày, quả mũ hơi nông, lợp vải màu hơi xám. Cứ nhìn ai đội mũ kiểu ấy biết ngay là cán bộ phòng thuế, hoặc sắp sửa quát nạt khách đi tàu hỏa. Thanh niên gốc Hà Nội không ai đội loại mũ này.

Có một thứ mũ đã thành huyền thoại, đi vào lịch sử cùng cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là mũ “tai bèo” của anh chiến sĩ giải phóng. Gọi là tai bèo vì nó làm bằng vải mềm, nên vành mũ chỗ cong lên chỗ cụp xuống, trông giống như cái lá bèo tây, bèo nhật bản. Nó chỉ có một màu cổ điển là màu vải ka - ki. Nó có dây buộc xuống cằm. Sau giải phóng vẫn có nhiều người đội, nhất là đội viên Thanh niên xung phong. Nhiều khách nước ngoài đến ta cũng cố kiếm một cái mang về làm kỷ niệm.

Thanh niên tình nguyện đội mũ tai bèo

 

Thoát ý từ mũ tai bèo, nếu màu trắng, lại thành một loại mũ khác hẳn. Người ta còn in chữ tây chữ tàu lên vành mũ, lúc đầu chỉ có một số phóng viên đội, sau phổ biến rộng, rất nhiều người đội.

Có nhà thơ tiết kiệm, phá cái quần cũ ra may thành chiếc mũ, do chính bàn tay khéo léo của bà vợ ngồi đạp máy khâu, sáng chế ra, nó hơi giống mũ tai bèo, lại hơi giống mũ phóng viên, cũng lại hơi giống mũ của hướng đạo sinh của cụ Hoàng Đạo Thúy ngày sưa. Đó là nhà thơ T.L.V. có bà vợ là người dân tộc thái vừa đẹp vừa hiền.

Loại mũ phóng viên này thuận tiện có thể gấp lại cho vào túi, nhất là đối với những người hay quên.

Nếu mùa hè nhiều người đội loại mũ phóng viên thì mùa đông nhiều bà vợ lo cho sức khỏe của chồng đã đan những cái mũ len, để chống lại cái gió mùa như dao cắt của miền bắc. Thực chất đó là những cái túi có khi là len tiết kiệm nên có đến dăm bảy màu trong một cái mũ. Có cái lại chùm kín toàn bộ cái đầu chỉ hở hai con mắt như một thứ mặt lạ. Các nhà sư có mũ li, nay có cái mũ biên phòng cũng tương tự chỉ khác nó may dài hơn.

Cùng thời với mũ be rê còn có mũ “cát két”. Lúc đầu, đây là mũ của thợ thuyền, thường xanh công nhân, sau nhiều người đội. Màu sắc cũng thay đổi. Có loại có múi, có loại tròn, và chất liệu cũng phong phú. Có người may quần áo rét, còn thừa vải, may thêm cái mũ cát két, như một thứ complê, dù rằng không cần thiết.

Vua hề Charlot có nói về bộ trang phục của mình đại ý cái mũ là sự tôn trọng danh dự, không thể thiếu. Có lẽ ở phương Tây thì thế. Ở Việt Nam có khác. Rất nhiều người không có thói quen đội mũ vì không thấy cần. Nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, suốt mấy chục năm cuối đời không thể đội mũ chẳng sao.

Xưa nay đang đội mũ, khi chào ai, phải ngả mũ, chí ít cũng phải chạm tay vào vành mũ như định ngả mũ ra chào. Gặp đám tang rứt khoát phải bỏ mũ, cầm trong tay, đám tang đi hết mới được đội trở lại. Vào nhà dù bất cứ nhà sang hay nghèo, đều không được đội mũ trên đầu. Nay có cảnh vào hội trường Ba Đình, nhà hát Lớn, vẫn có lắm ông đội sùm sụp cái mũ trên đầu. Có người phải nhắc khéo: ở đây không dột đâu. Học trò không được đội mũ trước mặt thầy.

Thế kỷ trước làm gì có con gái đội mũ. Nay quen mắt, trông cũng được. Chỉ có điều nên đội mũ gì, màu sắc gì, chất liệu gì cho phù hợp với thời tiết và khuôn mặt mình và đội vào lúc nào... cũng nên cân nhắc chứ không nên chỉ là để khoe một cái lạ, có khi lố lăng. Thử nghĩ trong bữa tiệc mà có cô gái đội mũ bảo hiểm xe máy như mũ phi công vũ trụ, liệu có coi được không nhỉ.

Cái mũ đã thay cái nón nhiều. Chỉ ở nông thôn hoặc những nơi lao động vất vả, cái nón mới được sử dụng cũng là xu thế thời đại.

Khuôn mặt đẹp, đội cái mũ đẹp càng đẹp thêm. Không biết cách trang điểm cách ăn mặc, chỉ tổ người ta chê cười. Đội mũ cũng không ra ngoài quy luật ấy.

Theo Thú ăn chơi người Hà Nội, Băng Sơn, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009,Tr156- 160.

 

Đăng lúc: 17/07/2011 14:07

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối