Niềm thơ quan họ

Lời thơ ấy, ánh mắt ấy, làn điệu ấy quả đã thành thứ bùa ngải đầy ma lực khiến con người hút chặt lấy nhau không bao giờ rời xa nữa...

 Sau một đêm tạ từ, có tấm lòng nào ngủ được yên chăng, hay chiếc giường gỗ xoan đào cứ chứng kiến nỗi nhớ mình đến tàn canh, khiến vừng trăng muộn cũng mòn đi non nửa và con gà vỗ cánh phải ngập ngừng mãi mới cất nổi tiếng gáy gọi ngày...

Những ngày này, giường mô đéc kiểu Đức bọc phoóc mi ca, đệm mút nhún nha, ánh đèn mờ nhân tạo làm nhiều người nồng say sau chai rượu sủi bọt mệt nhoài, có tấm lòng nào còn cảm thông với những trái tim thổn thức suốt mấy trăm năm, khi mà:

Người về em những khóc thầm

Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa...

Hát quan họ - Nguồn: internet

 

Những giọt mưa mặn chát và nặng như khối tình Mỵ Nương làm vỡ chén Trương Chi ấy đã có từ hồng hoang, từ con sông tạo lập, từ ngọn đồi hình thành, đến đêm hôm ấy, đêm câu ca dâng đầy ấy, mới lã chã chảy tràn lòng những người sinh ra sau, đầy thanh khí.

Mùa xuân, những giọt mưa còn mang cánh vô hình nên cứ bay bay khắp nẻo, không muốn chùng xuống mặt đồng mặt ruộng. Cây măng còn e ấp ngượng ngùng, con chim chào chào chưa về... nên bầu trời như tơ giăng như khói phủ... và từ đôi môi cắn chỉ, vừng má lúng liếng đồng tiền, phải thốt lên nỗi lòng phân vân xao xuyến, nỗi ghen thầm cũng nhẹ như mưa bay.

Người về em nhắc đôi lời

Yêu người chớ đứng ngồi với ai...

Cái ghen thầm của mối tình mới ướm, cái ghen nhẹ của trái tim bao la, của cuộc sống đầy nhân tình, chỉ bật ra giữa say đắm phút giây hiện tại mà chưa đắn đo đến con đường dằng dặc mai ngày. Bởi hôm nay còn:

Chàng buông vạt áo em ra

Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa...

Ngày mai có còn biết gặp nhau trong mối duyên kết ngãi nữa chăng, ai mà biết được những thăng trầm sóng gió, những chua chát nồng cay của lam lũ gian truân, của chia ly phiêu bạt, như bèo, như mây, như hoa trôi nước chảy… dù rằng con sông còn đó, ngọn đồi còn kia, câu ca còn lại, nỗi tình vương vấn…

Người quan họ bảo ca quan họ không buồn. Đúng chăng? Nhưng sao làn điệu luyến láy, những la hừ tha thiết và thê thiết đến vậy? Ngay ngày xuân lên chùa vui thế, cũng mượn chiếu nhà chùa ra ngồi để nói lời tình tự. Và câu ca nửa chừng lại bắt sang chuyện con nhện giăng mùng, những sợi tơ mong manh đến nỗi một hơi thở cũng lay động muốn đứt như dây đàn bạc phận.

Quan họ vốn không buồn nhưng người nghe vẫn cứ thấy buồn, phải chăng người ca đã đem cái thần của muôn thuở về đây, hay cũng lại người nghe đang mang mang đầy tâm sự, u uẩn nỗi xa vời của một bóng người lẩn khuất đáy tâm linh?

Nguyễn Du Viết: “Lơ thơ tơ liễu buông mành...” Sông Cầu cũng lơ thơ mới lạ chứ. Và lạ nữa là mấy thế kỷ đã cũng chấp nhận nỗi lơ thơ ấy. Nước chảy là lơ thơ? Cái phi lý như chuyện thần tiên huyền thoại in vào tuổi thơ. Thì ra khi người ta yêu thì người ta cũng thành trẻ thơ, sẵn sàng bay lên cùng thần tiên huyền thoại.

Nhắm mắt mà tưởng tượng, nhắm mắt để bài thơ quan họ thấm vào người qua tất cả các giác quan, để nghe rõ cả cái phập phồng nơi lồng ngực, nỗi e ấp trong ngọn lửa bàn tay mời miếng trầu cay cháy cả ruột gan, để thấy đêm qua ai ngồi tự song của sổ nhớ ai, cho nửa chăn nửa chiếu, nửa giường cũng lạnh giá cô đơn, lạnh cả tâm tư bảng lảng đầu bến con đò, lạnh cả cung đàn chùng dây, long phím... khiến khi chia tay, ai đó ra về, mà ai chỉ còn biết thở than “Cầm lòng vậy, đành lòng vậy...”.

Một nghệ sĩ Sáu Lầu ở Nam Bộ, đêm nghe trống, hiểu nỗi người cô phụ nhớ chồng, mà phổ tài hoa bất tử về khúc “Dạ cổ hoai lang” trở thành bài vọng cổ mê tơi hàng triệu trái tim suốt trăm năm đòi đoạn, sao mà cũng buồn đến vậy? Buồn gấp bao lần câu thơ và tiếng đệm la hừ của khúc quan họ Kinh Bắc, ở hai đầu đất nước xa tít mù tăm, sớm muộn khác nhau, sao lại gặp nhau trong tiếng đàn, câu ca bứt rứt lòng người đến thế. Đương nhiên quan họ không buồn như vọng cổ, không buồn như điệu Nam ai, nước mắt và máu, ứa ra từ tâm căn tình ái của một dân tộc không những anh hùng mà còn biết say đắm thiết tha, biết bản chất của tình yêu, nhân nghĩa, biết đắm say đế khổ lụy như một nàng tiên Giáng Kiều, như một chàng si tình Phạm Thái Chiêu Lỳ, như một nàng Ngọc Hân khóc ra khúc “Ai tư vãn” não nùng khi hoài niệm về một Quang Trung..

Có ai đó vừa vẳng. Những hồn hoa phách bướm trong Liêu Trai của Bồ Tùng Linh hình như không bao giờ biết hát. Lại thêm tiếng nói xa xôi: Xưa Trang Tử gõ bồn mà hát nỗi u uất khi bị phụ tình... Quan họ đâu có thế. Cô gái quan họ là hồn mơ phách mộng, chàng trai quan họ là nỗi đắm say, si mê dù ngày thường bao nhọc nhằn lam lũ. Liền anh liền chị quan họ là những con người bằng xương bằng thịt, chung thủy sắt son của đất Bắc Hà, của người Việt Nam, đã chiếm được đỉnh cao chói lọi của nghệ thuật âm thanh, truyền lại cho thời gian niềm rung động tràn đầy, rung động đến chết đi cũng vẫn không tàn phai trong cỏ úa.

Những vàng đeo bạc giắt, những trận cười thâu đêm nghiêng ngả lả lơi, có dám dũng cảm soi mình vào dòng sông quan họ một lần chăng? Ngọn tùng bách sừng sững giữa non cao, xanh tươi vĩnh cửu mặc phong ba bão táp, thách thức cùng thời gian và không gian biết đâu có thể lúc đã làm thức tỉnh những ngọn cỏ ven đường, cho cỏ biết ngửng đầu, trong lọc. Ai chẳng từng có lần nghe tiếng sáo trúc dìu dặt trong đêm trăng, tiếng đàn tranh rừng núi như vừa chợt thức, tiếng phách đồ dồn như mưa như gió (nói như nhà thơ Trần Huyền Trân:

... Người ơi mưa đấy hay sênh phách

Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa...)

Hoặc tiếng đàn bầu ngân nga não ruột niềm tâm sự đợi chờ khiến ca dao phải lên tiếng thở than:

Đàn bầu ai gảy thì nghe

Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu...

Hay có khi chỉ là một hồi chuông chùa thu không trong chiều tịch mịch, tiếng tù và giục giã trong đêm quạnh vắng... cùng những nhị những hò, những tam, những tứ nhức óc... Hẳn sẽ không khỏi xúc động khi một làn quan họ vẳng đến như thơ, như mộng, như gần như xa như buông như bắt, nó thấm vào tâm tưởng, nó làm mình như thoát khỏi hình hài, cho cả thể xác và tâm hồn bay lên, bay lên trong nỗi vô hình mà có thực, trong niềm thổn thức.. và chợt như ta đã bị quan họ hòa tan thân ta ra, cho lẫn vào cùng quan họ.

Người ơi, không, không bao giờ. Nhẫn không rơi đâu. Nón không bay đâu và áo vẫn trêu người, có màu đổi vai nâu non khuê gợi, đằng sau thứ vải mộc mạc kia là tám vai tròn chạm đến sẽ bỏng tay.

Chính mẹ đã biết con mình theo nghiệp của mình, trở thành liền chị, đâu có cần nói dối, đâu có thể nói dối, và mẹ càng biết rằng quan họ mong nhau khiến cho:

Một tin mong, hai tin đợi, ba bốn tin chờ sao chẳng thấy anh... khiến cho bèo cũng giạt, mây cũng trôi, con mắt phải lim dim, con nhện phải lội sông đi tìm, tìm trong thương nhớ.

Một nhạc sĩ Hoàng Việt viết “Tình ca”. Hàng loạt nhạc sĩ đương đại khác viết hàng loạt tình ca khác. Nhạc sĩ Phạm Tuyên vừa phổ xong bài thơ về tình yêu, có câu:

Không chỉ chiến công mới thành lịch sử

Mà yêu nhau cũng đáng để tôn thờ...

Thì quả là cái lý của con tim đã mách bảo những con người tìm đến niềm thiêng liêng và vĩnh hằng bất tử ấy.

Những viên ngọc dù có bị vùi lấp, che khuất, chôn xuống đất dìm dưới ao... nó vẫn cứ lấp lánh nguyên giá trị của mình.

Quan họ tồn tại đến bao giờ? Chưa biết. Nhưng chắc rằng còn có những con người tìm nhau, yêu nhau, say đắm nhau, si mê nhau, xao xuyến vì nhau, hồi hộp bứt rứt vì nhau, làm thơ vì nhau, ca hát vì nhau... thì Quan họ vẫn còn là tiếng nói của những con tim tìm đến truyền đến những con tim.

Lời thơ ấy, ánh mắt ấy, làn điệu ấy quả đã thành thứ bùa ngải đầy ma lực khiến con người hút chặt lấy nhau không bao giờ rời xa nữa...

Theo Thú ăn chơi người Hà Nội, Băng Sơn, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009,Tr347- 352.
Đăng lúc: 26/07/2011 11:33

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối