Lễ hội đền Hát Môn

Dân xã Hát Môn cử hành tới 3 lễ hội trong một năm.

 Đền thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ. Ngày xưa, xã này là đất Hát Môn và xã Vạn Hát, tổng Phù Long tỉnh Sơn Tây. Sau này là xã Hát Môn, năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây. Năm 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, năm 1979 thuộc Hà Nội, năm 1991 thuộc tỉnh Hà Tây. Từ năm 2008 thuộc Hà Nội.

 

Hát Môn là một làng cổ, nằm ngay cửa sông Hát (sông Đáy). Nằm kề chân đê là đền thờ Hai Bà Trưng. Truyền lại, đền có từ thời tiền Lê, diện mạo hiện tại của ngôi đền mang dấu vết từ thế kỷ thứ XIX. Ngay chân đê là cổng đền với các bậc thềm đi xuống. Hai bên cổng có hai cột trụ với hai câu đối nổi tiếng:

Đồng trụ chiết hoàn Giao Lĩnh trĩ

Cẩm Khê doanh hạc Hát giang trường

tạm dịch:

Đồng trụ gãy hay còn, núi Lĩnh Nam đời đời cao ngất

Cẩm Khê vơi hay đầy, dòng Hát Giang mãi mãi vươn dài

Đền chính tọa lạc trên một gò đất tứ linh đẹp và linh thiêng, sân trước nhà đại bái rất rộng có hai bàn thờ, sau hai bàn thờ có cây si. Tương truyền rằng, hai bàn thờ này thờ hai người lính gác hai cây muỗm trước sân đền, hai cây muỗm này vốn có từ thuở Hai Bà Trưng?

Tại nhà bái đường có bức hoành phi với bốn chữ "Lạc Hùng chính thống" nhằm ca ngợi sự nghiệp của Hai Bà Trưng đã nối lại nền chính thống của các vua Hùng. Ở hậu cung không có tượng mà chỉ có bài vị của Hai Bà Trưng. Các cụ già trong làng kể rằng, xưa kia, đền vẫn có tượng Hai Bà Trưng đặt trong hậu cung, hàng năm cứ đến 23, 24 tháng chạp, người làng rước tượng Hai Bà Trưng ra tắm ở nhà Dội. Năm 1883, thực dân Pháp, sau khi chiếm Hà Nội, đã kéo đến vây ráp Hát Môn, cướp hai pho tượng đem đi. Cùng năm ấy, rất nhiều tượng ở Hà Nội bị mất, trong đó có tượng Hai Bà Trưng ở đền Đồng Nhân. Thành ra, từ ấy, tại đền này, người dân đặt bài vị vào điện thờ Hai Bà Trưng mà không có tượng!

Theo huyền tích, Hai Bà Trưng là cháu chắt ngoại của dòng dõi Hùng Vương. Quê mẹ của Hai Bà ở thôn Nam An, xã Canh Thiên, huyện Ba Vì. Quê cha của Hai Bà ở Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà Man Thiện, thân mẫu của Hai Bà góa chồng từ rất sớm nhưng rất chú trọng dậy con theo tinh thần yêu nước và thượng võ.

Trưng Trắc lớn lên, là một phụ nữ đảm đang, mưu trí. Bà lấy chồng là Thi Sách, con trai một Lạc tướng, người Chu Diên. Cùng chồng và em gái đang lo nghiệp lớn thì Thi Sách bị thái thú Tô Định giết chết, Trưng Trắc không mềm lòng. Nợ nước, thù nhà khiến bà quyết tâm khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ phương bắc, khôi phục nền độc lập của đất nước. Truyền thuyết dân gian kể, khi ra trận, Bà cởi bỏ khăn tang để yên lòng quân sĩ. Ước vọng chiến đấu của Bà đã được “Thiên Nam ngữ lục”, một tác phẩm cuối thế kỷ XVII, ghi lại bằng lời thề:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẹn vẹn sở công kênh này

Tháng ba năm 40, Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát. Khắp nơi là những người yêu nước rầm rập kéo về tụ nghĩa ở Mê Linh. “Theo Hậu Hán thư (quyển 54 và quyển 86) những người Man, người Lý( tiếng chỉ chung các dân tộc phương Nam) ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng[1]. Đất nước được giải phóng, nền độc lâp của dân tộc được phục hồi, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh

Tháng 4 năm 42, nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, đem hai vạn quân, cùng hai nghìn thuyền xe sang xâm lược nước ta. Mã Viện tiến vào, Trưng Vương cùng các tướng lĩnh phải quân từ Mê Linh xuống Lãng Bạc đánh giặc. Tại đây một cuộc chiến ác liệt giữa ta và quân xâm lược Mã Viện, chiến đầu rất dũng cảm nhưng quân Trưng Vương thế yếu nên bị thu, phải lui về Cẩm Khê (Yên Lạc - Vĩnh Phúc). Mã Viện đêm quân đuổi theo. Sau gần một năm anh dũng chống giặc, cuối cùng sức yếu, quân ta tan vỡ. Hai Bà Trưng lui về Hát Môn, sau đó gieo mình xuống dòng Hát Giang tự vẫn.

Truyền thuyết dân gian của vùng Hát Môn kể khi bị Mã Viện đuổi quá gấp rút. Hai Bà Trưng đã qua đây ghé chân ăn hai đĩa bánh trôi và hai quả muỗm. Một bà già trong làng đã dâng bánh trôi cho hai bà xơi, thành ra bên đền thờ Bà, người ta còn lập đền thờ bà bán bánh trôi, dưới một gốc cây đa cổ thụ[2]. Quả muỗm của Hai Bà Trưng ăn, hạt mọc thành hai cây muỗm. Về sau, người dân dựng đền gần hai cây muỗm. Muỗm lớn lên tỏa bóng mát che ngôi đền thờ Hai Bà Trưng. Người dân chọn lính bảo vệ hai cây muỗm. Khi cây muỗm chết, người ta dựng bàn thờ hai người lính tượng trưng cho hai cây muỗm xưa.

Truyền thuyết vùng Hà Nội kể: sau khi chết, khí anh linh của Hai Bà Trưng kết thành tượng đá, theo dòng nước trôi xuôi, mãi đến thời Lý mới đến vùng Thăng Long. Một đêm đầu tháng hai âm lịch, hai pho tượng đã tỏa sáng trên dòng sông Nhị trước bãi Đồng Nhân, dân làng lấy vải đỏ làm lễ buộc tượng đón các Bà vào. Dân gian truyền rằng tượng đá có cái thế hai tay giơ cao như đang rẽ nước tiến lên, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp.

Trong tâm thức dân gian, người dân không chịu để Hai Bà Trưng tự vẫn ở sông Hát mà người ta truyền rằng Hai Bà hi sinh ở chiến trường, máu Hai Bà thấm đỏ non sông. Bởi vậy, toàn bộ đồ thờ ở đền Hát Môn đều sơn màu đen, kiêng màu đỏ. Hàng năm, người đến tế lễ cũng như dự hội hè ở Hát Môn đều không được ăn vận quần áo, trang phục màu đỏ. Nếu có phải để ở ngoài đền.

Dân xã Hát Môn cử hành tới 3 lễ hội trong một năm.

Ngày Mồng 6 Tháng Ba - Đền mở cửa, thắp hương tế lễ. Cả làng cùng làm bánh trôi để dâng cúng. Người dân ở đây còn gọi bánh trôi là bánh tù tì. Bánh trôi ở Hát Môn được nặn theo hình quả trứng. Để dâng Hai Bà Trưng bánh được nặn đúng 100 viên rất nhỏ và sau khi tế thần xong dân làng đem 49 viên đặt vào lòng một bông hoa sen thả ra sông Hát để trôi ra biển, người ta nhìn những viên bánh trôi trôi đi[3].

Trong khi cúng tế Hai Bà Trưng, dân xã Hát Môn không quên Bà hàng nước. Họ cũng dâng bánh cúng bà. Dân làng Hát Môn không bao giờ và không ai dùng bánh trôi nước trước ngày mồng 6 tháng ba.

Ngày hôm đó, trong khi ở đền cúng Hai Bà Trưng, tại các tư gia người ta cũng làm bánh trôi để cúng tổ tiên, và chỉ sau những cuộc lễ này, người ta mới ăn bánh trôi.

Món bánh này, đối với dân làng Hát là một thứ bánh Thánh, Thánh hưởng thụ rồi dân mới ăn. Nếu chưa đến ngày mồng 6 tháng 3, người dân Hát Môn dù có đi đâu, được bạn bè mời ăn bánh trôi cũng không bao giờ họ ăn. Đây là do lòng thành kính của họ đối với Hai Bà Trưng, chưa đến ngày giỗ Hai Bà Trưng, Hai Bà Trưng chưa hưởng, họ chưa ăn. Và họ cũng muốn nhớ lại cử chỉ cao đẹp của bà hàng bánh trôi, dù nghèo khổ đến đâu cũng dâng bánh lên Hai Bà, trước khi Hai Bà xuất trận

Ngày Mồng 4 Tháng 9 - Đây là ngày Hai Bà Trưng khao quân khi vừa rút quân ở Tây Hồ về. Trong ngày này dân làng kéo cờ đại, giết trâu, giết bò, lợn, dê để tế Hai Bà.

Trong ngày hội này có lễ trình diện con trâu do các quan viên chọn để cúng tế Hai Bà. Con trâu này không phải chỉ béo tốt là đủ, tục lệ nơi đây cần đến tướng trâu, con trâu mang trình diễn phải có quý tướng, nghĩa là theo mặt kinh nghiệm phải lưng cầu, đầu quạ, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi. Chọn được con trâu đúng cách, dân làng sẽ làm ăn phát đạt. Con trâu mang trình diện được cho uống rượu, sau đó mới bị làm thịt cắt tiết thui vàng rồi khiêng vào trước sân đền để làm lễ tế.

Ngày 24 Tháng Chạp - Đây là ngày hội lớn nhất trong năm của xã Hát Môn. Trong ngày hội này, hàng ngàn trai gái trong làng được vận động để chia thành hai đạo binh tiền hậu. Và hội, nam binh nữ binh có đồng phục riêng.

Tám cô trinh nữ nhan sắc được lựa chọn để theo sau hầu kiệu Hai Bà.

Cắt đặt xong mọi người phải tập dượt hàng tuần trước. Nửa đêm hôm 24 tháng chạp, nghe tiếng trống làng thanh niên, thanh nữ tập họp thành từng đội các chân cờ, chân kiệu, các hiệu trống, hiệu chiêng và các chân vác tàn lọng đã đứng vào hàng.

Đêm hôm giá lạng mùa đông, đám rước rầm rộ giữa tiếng đàn nhạc, trong ánh đuốc sáng rực trời như một cuộc hành quân lớn. Tượng thánh được rước ra sông làm lễ mộc dục, rồi rước về đền làm lễ dâng tế, chúc tụng.

Nói về lễ hội Đồng Nhân, giáo sư Trần Quốc Vượng và ông Vũ Tuấn Sán viết: “Ngày trước, từ tháng hai, mồng bốn dân làng đã bắt đầu tế lễ, gọi là lễ nhập tịnh. Mồng 5, lễ rước nước hàng trăm người rước kiệu, bơi thuyền ra giữa sông lấy nước nấu trầm hương để bao sai tượng, rõ ràng lễ rước nước tháng hai ở đền Đồng Nhân cũng như tiệc bánh trôi tháng ba ở đền Hát Môn là sự ảnh xạ vào lịch sử những nghi lễ nông nghiệp cổ truyền từ trước thời Lý, vua vẫn cầu mưa ở đền Nhị Thánh Trinh Linh phu nhân: sau pho tượng đá Bà Trưng - anh hùng lịch sử - vẫn lung linh bóng dáng một nữ thần nông nghiệp”.

Lớp tín ngưỡng thứ nhất và dễ nhận ra là sự kính trọng người anh hùng cứu nước. Chỉ riêng thái độ uống nước, nhớ nguồn ấy, đã khiến cho chúng ta trân trọng lễ hội đền Hát Môn. Hạt nhân văn hóa mà các thế hệ tiền nhân đã để lại cho thế hệ kế tiếp và đến hôm nay trong lễ hội đền Hát Môn có một sức sống kỳ lạ, như một chất men kỳ ảo nuôi niềm tôn trọng ấy sống mãi.

Mặt khác, bóc tách lớp văn hóa lắng đọng trong lễ hội ở đây không phải không gặp tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp. Những viên bánh trôi và bữa tiệc bánh trôi quả là sự ảnh xạ vào lịch sử những lễ nghi nông nghiệp. Nhưng cũng chính tại tín ngưỡng này, người ta lại thấy nét riêng của nó. Ít có lễ hội nào lại có việc thả bánh trôi theo dòng nước, như lễ hội đền Hát Môn. Lễ mộc dụn quen thuộc của nghi thức đêm, nhằm mô phỏng lại chiến trận năm xưa của người phụ nữ anh hùng. Pho tượng đá theo truyền thuyết là linh khí của Hai Bà Trưng tụ lại, cũng là một tín hiệu folklore quen thuộc để ta hiểu một lớp tín ngưỡng lắng đọng trong lễ hội ở đây.

Giữa hai lớp tín ngưỡng, có sự đan xen lẫn nhau, tạo ra diện mạo lễ hội ở đền Hát Môn. Sức sống của lễ hội qua thời gian chính ở chỗ nó tồn tại một cách hữu thức trong tâm hồn các thế hệ đi sau, mà không hề bị phai nhạt cả nghi thức lẫn ước vọng, tình cảm của con người được gửi gắm trong các lớp văn hóa tín ngưỡng./.

Theo Lễ hội cổ truyền Hà Tây, nhiều tác giả, Sở VHTT Hà Tây, 1999.
Đăng lúc: 19/07/2011 17:07

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối