Lễ hội chùa Trăm Gian

Đã là chùa thì phải thờ Phật, song ở chùa Trăm Gian, Phật giáo đã hòa nhập tín ngưỡng địa phương nên còn thờ cả thánh

 Vào giữa thế kỷ XVII trong bối cảnh cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài bất phân thắng bại, nhiều quý tộc tìm đến thần quyền đã giúp mở mang những cảnh chùa có quy mô rất lớn mà dân thường gọi là chùa trăm gian. Trong những chùa này, nổi lên vừa là danh lam vừa là thắng cảnh phải kể đến chùa Trăm Gian ở xã Tiên Phương huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Nội, có tên chữ là chùa Quảng Nghiêm.

Tam quan chùa Trăm Gian. Ảnh internet

 

Nơi đây là thềm cao của đồng bằng sông Hồng nối với trung du để chuẩn bị ăn lên vùng núi đá vôi Hòa Bình, do đó có nhiều núi đất núi đá xen nhau, trong đó núi Sở được xem là con ngựa và còn mang tên núi Mã, cạnh đấy là núi So còn được mệnh danh là núi Hổ, còn rất nhiều gò đất mang tên con Mộc, con Hỏa, con Long... Xa xa một chút về phía Quốc Oai là dãy núi đá Sài Sơn. Các dãy núi đất núi đá này đều có chùa to tô điểm cho cảnh đẹp. Đó chính là không gian lý tưởng của các hội xuân để trai gái vãng cảnh, tỏ tình giao duyên như câu ca dao địa phương: Vui từ So, Sở vui ra chùa Thầy.

Cảnh đẹp, hội vui không chỉ hấp dẫn người trần, còn làm say lòng thần thánh. Thần thánh vân du khắp nơi, nhưng rồi cuối cùng dừng lại nơi đây tu luyện: Chùa Trăm Gian có thánh Nguyễn Bình An, chùa Thầy có thánh Từ Đạo Hạnh. Thánh thần thì nhiều phép lạ để che chở cho dân và chống ngoại xâm.

Đức Thánh Nguyễn Bình An quê ở Bối Khê (Thanh Oai), trụ trì chùa Trăm Gian vào cuối thời Trần. Người cho đón thợ khéo về mở rộng cảnh chùa. Trong khi thi công, Người thường đi guốc trèo lên các hoành nhà xem xét. Nuôi thợ. Người cho nấu niêu cơm con, rồi bước 3 bước về quê xin tương cà chú thím. Khi cơm chín, thợ thay nhau vào bắc không nổi. Người chỉ nhún tay nhấc ra giỡ được 3 nong cơm và 1 nong cháy, tương cà làm cả trăm cỗ. Nay những nơi Quán Thánh, Lương Xã, Ó Vực còn dấu vết chân, ở đồng chiêm, đều được xây bệ và trồng cây cọ, riêng Quán Thánh có thêm tảng đá nhô lên là một điểm gần với hội chùa.

Cảnh chùa đang đẹp thì quân Minh xâm lược, với mưu tiêu hủy văn hóa Đại Việt, chúng đã tưới dầu đốt chùa. Người làm mưa máu, giặc bị ốm chết nhiều phải rút đi, tương truyền một nhóm ở lại Mai Lĩnh lập nghiệp và sau đấy ngày hội chùa phải đến trình Thánh- nếu không thì hay bị cháy làng (quả báo việc giặc Minh đốt chùa). Năm 95 tuổi, người cho đóng khám gỗ, đêm 12 rạng ngày 13 tháng Chạp vào khám ngồi và dặn đệ tử bách nhật thì mở ra xem, nếu thấy thơm thì rút mây làm tượng thờ, mà thối thì đổ ra sông Cái. Mới mồng 4 tháng giêng, dân đã hé khám xem, thấy hào quang và hương thơm, bèn kéo lên chùa làm lễ. Dân Bối Khê cũng lên rước thì hài Người về quê nhưng không được, ngày 12 bèn xin duệ hiệu và rước bát nhang về thờ vọng, từ đó dẫn đến việc kết chạ giữa hai làng Bối Khê và Tiên Lữ và là thành tố quan trọng của hội chùa.

Chùa Trăm Gian thuộc chung các xã Tiên Lữ xưa (vốn gồm thôn Nội và thôn Thượng ở hỗn canh hỗn cư) và Phương Khê (nay nhập thành xã mới Tiên Lữ - huyện Chương Mỹ), lại thêm Thổ Ngọa (nay thuộc xã Tân Hòa huyện Quốc Oai). Vì thế hội chùa Trăm Gian là của dân “tứ bích”, các thôn thay nhau đăng cai chứa thôn anh Bối Khê sang dự hội. Nhân dân trong cộng đồng tứ bích trước đây được phân làm hai loại có quyền lợi khác nhau là quan viên và bạch đinh. Để có tiền chi tiêu cho những việc công ích ( như sửa chữa chùa đình, hay sắm đồ thờ…), làng bán một số xuất nhiêu đưa về các giáp, dân định cư từ 18 tuổi trở lên muốn mua thì nhờ người có chữ “tả” cho một lá đơn, sửa lễ trình để dân công nhận và góp tiền cho làng. Những người đã mua nhiêu vào việc làng được ăn trên ngồi chiếu. Nếu chưa mua nhiêu thì là dân bạch đinh phải đi rước kiệu và giá trong ngày hội, phải đóng chông chìa để làng rào điếm canh, vào việc làng phải ngồi ngoài, ngồi dưới. Những người đã mua nhiêu nhưng phải việc quang quẻ, ngoài 30 tuổi mới được thổi cỗ chùa và từ 60 tuổi trở lên mới được chứa Sãi (tức dân anh Bối Khê sang dự hội chùa).

Đã là chùa thì phải thờ Phật, song ở chùa Trăm Gian, Phật giáo đã hòa nhập tín ngưỡng địa phương nên còn thờ cả thánh, và hội chùa Trăm Gian là để kỷ niệm đức thánh Nguyễn Bình An, được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng Giêng (thường kéo dài đến mồng 6). Lễ hội quan trọng có rước kiệu thánh, thi cỗ chay và trình rối cạn; ngoài ra còn các trò vui như đánh cờ người, đấu vật, múa rối nước, đốt pháo hoa...…

Chùa Trăm Gian ở trên núi đất thấp có đỉnh bằng phẳng, sườn đồi thoải, vốn trồng nhiều thông có gác chuông và hệ thống cấp bậc lên chùa, phía trước gác chuông có nhà Giá Ngự và ở chân núi có hồ bán nguyệt. Trong chùa có nhiều vật quý như đôi rồng bậc cửa, nhiều viên gạch thời Mạc là những phù điêu trang trí, tượng chân dung đô đốc Đặng Tiến Đông thời Tây Sơn và một Phật điện gồm nhiều tượng thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Không gian bắt đầu từ chùa nhưng mở ra đến tận Quán Thánh ở giữa cánh đồng, sau làng, cách xa gần 2 cây số. Thời gian mở hội ngay sau Tết Nguyên Đán, song được chuẩn bị từ nhiều tháng trước. Vào trước ngày hội, làng cho dán bảng giấy hội ở nhiều nơi để mời khách thập phương về dự. Lễ hội to trước đây mà dân địa phương còn nhớ là vào năm 1953, tờ Bảng hội mở đầu bằng câu thông tin:

“Đỉnh núi non dài cảnh Thiên Thai,

Quảng Nghiêm tên tự ấy chẳng sai

Xuân nhật thượng quan lai vãng cảnh

Quốc tế ngàn năm để tiếng truyền...”

Lịch hội truyền thống là ngày mồng 4: Đại đám có rước kiệu Thánh , rước nhang yến (án), rước giá cỗ ( cỗ bánh chưng bánh dày của nhà chùa), rước giá văn bản (để bản văn tế), rước mâm ngũ quả và bát nhang. Riêng kiệu Thánh là kiệu bát công do 18 người khiêng, mỗi giá rước có 4 người khiêng, lại thay nhau, tất cả gồm hàng trăm người. Người rước đều mặc áo Mã tiền gồm trong là thân áo, ngoài đính các dải phướn màu xanh- đỏ- tím- vàng phía trên nhỏ bằng đũa cả, phía dưới to bằng mái chèo.

Ngày mồng 4, bắt đầu vào giờ Thìn (7-9 giờ sáng) thì rước kiệu ra sập đá trước nhà Tiền đường để trí kiệu ( tức chồng đòn), cắm tàn quạt xung quanh và bày dàn bát bửu. Sau đó rước xuống núi theo đường chữ chi từ chùa xuống gác chuông thì vòng qua phải rồi quay lại đi giữa nhà giá ngự và hồ bán nguyệt để ra đường làng, từ đây đi thẳng ra Quán Thánh ở giữa đồng chiêm là nơi có dấu tích bước chân thứ nhất của Thánh về quê xin tương cà. Đến hòn đá ở Quán Thánh thì tổ chức tế. Chỉ huy đám rước là ông Quản Tuần cùng các chức sắc chánh phó tổng, do trương tuần dẹp đường. Tế xong thì rước về, khi đi đến chân núi thì rước thẳng lên chùa mà không phải đi chữ chi nữa. Đến tối Thánh hoàn cung thì đoàn Mai Lĩnh phải vào trước cửa điện Thánh làm lễ trình rối với ý nghĩa là sự trình diện của quân Minh xưa. Đoàn Mai Lĩnh có 4-5 người, gồm một người gánh những con rối đựng trong 2 bồ to và mấy người đi trình rối. Khi trình rối, họ căng màn lên, người trình đứng sau màn lần lượt giơ con rối bà mẹ rồi thứ tự rối các con. Trình xong, các con rối được cất đi để năm sau dùng lại, sáng hôm sau đoàn về.

Về mâm “ngũ quả” thực ra có nhiều thứ quả gồm chuối tiêu 6 nải, cam đường 10 quả, cam sành 10 quả, quýt 10 quả, bưởi đào 1 quả, bưởi chua 1 quả, bưởi đường 1 quả, bưởi gấc 1 quả, na 1 quả, mít 1 quả, dứa 1 quả… càng nhiều thứ quả càng tốt.

Trong hội rước ngày mồng 4, cỗ chay do nhà chùa sửa, có 16 bánh chưng và 16 bánh dày, cúng xong chia đều cho 4 thôn, các quan viên được góc bánh chưng bánh dày, sắc mục mà chưa mua nhiêu chỉ được lát oản thôi.

Đoàn đại biểu Bối Khê sang dự hội chùa Trăm Gian được gọi là các cụ Sãi quan anh, gồm 8 cụ ông và 8 cụ bà. Đến hội chùa Bối Khê 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của “tứ bích” lên dự cũng được gọi như thế. Để đón tiếp, làng bình chọn trong “Tứ bích” mỗi thôn 2 người, phải là người cao tuổi, có uy tín trong dân, đạo cao đức trọng, đủ tư cách, khi tiếp chuyện phải nói năng lễ độ, nhún nhường, hàn huyên thân tình sau 1 năm xa cách. Các cụ Sãi Bối Khê được lấy từ 7 sào ruộng do làng cấp để tổ chức 2 bữa cơm ( trưa ngày 4, sáng ngày 5) và một bữa nước ( tối ngày 4). Cỗ chứa Sãi rất to bày trên mâm vuông 2 tầng. Trưa ngày 5 dân anh trở về.

Ngày 5 thổi cỗ chùa, người đến lượt phải làm không được cấp ruộng. Từ tối hôm trước, gia đình thổi cỗ đã cho người đi mời khắp lượt, người đến chúa đều có quà mừng. Gia đình phải chuẩn bị gạo ngon, rá mới để vo và chậu mới để đựng cơm canh. Vo gạo cả dãy dài, ông chủ đi xem thọc tay vào từng rá gạo để kiểm tra. Ăn cỗ chùa vào trưa ngày 5.

Đặc biệt những gia đình được chọn thi cỗ chay (xôi, chuối) để tế tạ ngày 6, phải chuẩn bị từ nhiều tháng trước. Ngay từ tháng tám phải nhờ các cụ đi lùng trong làng ngoài xã, thấy nhà nào có chuối trổ hoa thì đặt mua trước, khi chuối rụng bẹ thì mua cót vuông cắt thủng đáy bao lại để tránh bụi bẩn và côn trùng làm sây sắt, chuối lớn một chút thì lấy giấy bản đệm để tạo hình cho quả xòe đều. Đến rằm tháng chạp sửa lễ quan Giám Trai để cắt chuối và sắm gạo. Gạo nếp cái chừng dăm yến, giã từ rằm, đến ngày 25 thì sàng hạt to nhất và tấm bỏ riêng, chỉ lấy hạt 2/3 gạo thôi, đủ đóng được 16 phẩm oản to, đến ngày 28-29 thì cất vào chum, sáng mồng 5 mang ra vo để mồng 6 thôi xôi đóng oản. Tiêu chuẩn thi là chuối tiêu 4 nải dài còn xanh, dáng đẹp tròn, quả mập to vừa chín tới, vỏ quả không bị chấu đá, không có vết xước hay tàn nhang và bụi trần. Oản cả 16 phẩm phải trắng rền, mịn màng, óng ánh như gương. Gia đình được giải nhất mang phẩm oản và nải chuối biếu quan đầu tỉnh.

Những ngày hội chùa đều có cuộc vui. Đặc sắc nhất là cờ người được tổ chức trên sàn ở giữa hồ bán nguyệt, người xem đứng trên bờ quanh hồ. Trong nhà Giá ngự ở trên bờ phía sườn núi đặt kiệu Thánh trí ở đấy cũng xem trò dưới hồ. Tham gia đóng các quân cờ, tuớng nam phải là các cụ ông chức sắc, tướng nữ phải là vợ các qưan viên trở lên, gia đình song toàn. Các tướng này phải là người hai thôn Thượng và Nội từ 50 tuổi trở lên, có tướng mạo đẹp. Quân cờ là trai gái người làng chưa có vợ có chồng, dáng thanh tú. Quần áo nam nữ khác màu nhau (xanh, đỏ) do gia đình hằng tâm may cho bố đồ gấm (tướng ông), cho mẹ đồ vóc nhiễu (tướng bà), còn các con phải may lấy. Những người giỏi cờ khắp thiên hạ muốn vào đấu phải xin Ban quản cờ rồi vào trong nhà khảo qua cờ bàn để xem tài cao tấp, sau đó chờ đến lượt mới lên sàn đấu.

Đấu vật cũng có nhưng ít thôi, vì đây không có hói vật, tổ chức trên bãi cỏ quanh chùa, thường thu hút các hói vật Quảng Bị, Trúc Sơn, Đồng Lư…

Hội pháo cũng sôi nổi, có pháo bông, pháo hoa, pháo ném vào màn pháo trên cao, pháo chuột, pháo nhị thanh. Đoàn dân anh Bối Khê thường mang dàn pháo hoa lên mừng. Pháo hoa khi nổ nở ra các hình người xay lúa, người giã gạo và có khi là cả câu đối - chẳng hạn như câu vốn có trong chùa:

“Bắc quốc chí kim kinh lộ vũ

Nam phương tự cổ vọng truờng vân”

Rối nước tổ chức dưới hồ, do người thuộc phường rối nước các nơi được đón về biểu diễn.

Lễ hội chùa Trăm Gian truyền thống là lễ hội Phật giáo của cư dân nông nghiệp lúa nước, trong cái áo khoác tín ngưỡng xưa, là việc giáo dục tinh thần yêu nước và đoàn kết, rèn luyện tinh thần thượng võ và thi tài khéo léo. Tinh thần ấy vẫn cần cho xã hội hôm nay, tất nhiên có sự đổi mới ở chừng mực cho thích hợp./.

Theo Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Nhiều tác giả, Sở Văn hóa Thông tin HàTây, 1999.

 

Đăng lúc: 16/07/2011 16:57

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối