Hội đền Bái Ân

Hội có đặc điểm: rước kiệu quỳ, hát ca trù, cờ người

 Thờ: Ông thánh Chú và ông Dầu bà Dầu

 

Địa điểm: Bái Ân, Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy

Thời gian: 30 tháng Một, mồng 6 tháng Chạp

Chính hội: mồng 10 tháng Hai

Đặc điểm: Rước kiệu quỳ, hát ca trù, cờ người

Đình Bái Ân - Ảnh: Vũ Hưng

 

Đình được xây trên một khu đất rộng giữa làng Bái Ân theo hướng tây, nay thuộc xã Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy – Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 8km. Đình thờ ông thánh Chú và vợ chồng thần Vũ Phục…ngày hội chính mồng 10 tháng Hai. Hàng năm còn có hai ngày kỵ 30 tháng Một ngày hoá của vợ chồng thần Vũ Phục. Ngày mồng 6 tháng Chạp ngày hoá của ông thánh Chú.

Chuyện xưa kể rằng: Vào thời vua Lý Nhân Tông có ông Vũ Phục quê ở Phong Châu (Phú Thọ) lấy vợ là người làng Minh Tảo (nay thuộc xã Xuân Đỉnh - Từ Liêm).

Vào thời ấy, sông Thiên Phù khởi nguồn từ sông Hồng, chỗ địa phận Phú Gia - Nhật Tân chảy theo hướng bắc – nam, qua các cánh đồng Phú Gia, Xuân La, Bái Ân, đến vùng Nghĩa Đô, Yên Thái thì hợp với sông Tô Lịch.

Một năm nước sông lên to, ở ngã ba sông nước cuốn băng băng xoáy vào góc thành Thăng Long phía tây, làm cho góc thành xói lở khiến nhà vua bị đau mắt. Theo lời thần mộng muốn trị thuỷ phải có người hiến linh thần. Vua cho sứ giả đi rao. Ông bà Vũ Phục tình nguyện nhảy xuống sông, khi hoá mong cúng xôi dẻo, gà mái ghẹ. Vào một chiều mưa gió, nước cuốn dữ dội, họ nhìn dòng sông mênh mang sóng vỗ, bà gieo mình xuống trước, ông cũng lao mình xuống làn sóng cuộc chảy để hiến linh thần. Khi ông bà vừa gieo mình xuống, thì lạ thay bỗng trời quang mây tạnh, dòng sông lặng sóng, phương tây ráng chiều bỗng bừng lên đỏ rực, và góc thành phía tây như được phù sa bồi thêm vững chắc. Nhà vua khỏi đau mắt, nhớ ơn, phong thần và sai lập miếu thờ.

Mấy hôm sau ông thánh Chú, em của Vũ Phục từ xa trở về, nghe tin anh và chị dâu mất, quá thương xót, đã chạy ra bờ sông, đến vùng Quán Cây Ao Cá (Bái Ân) thì bị vấp ngã rồi hoá. Trước tấm gương vợ chồng thuỷ chung, anh em chí nghĩa, dân làng đã tôn ông thánh Chú làm thành hoàng và rước bài vị vợ chồng thần Vũ Phục về thờ chung để đời đời hương khói.

Từ đấy, cứ đến ngày hội, ngày giỗ kỵ, theo ước muốn của ông bà khi sống, dân làng thường dâng những phẩm vật như xôi dẻo, bò béo, gà mái ghẹ, bánh rán, chè kho để cúng lễ.

Trải qua thời gian, đình được trùng tu nhiều lần vào những năm 1634 – 1637 và 1652 thời Lê Thần Tông và sau này còn nhiều lần tu sửa. Hiện vật trong đình còn lại gồm: một cuốn ngọc phả thời Gia Long, hai mươi đạo sắc phong qua các triều vua từ thời Lê đến thời Nguyễn, ba kiệu bát cống được chạm khắc từ thế kỷ thứ XVII, ba ngai thờ, một tấm bia đá hậu thần Cảnh Hưng vạn niên, một tấm bia đá Gia Long vạn niên, một chiêng cổ, một quả chuông đúc thời Gia Long, nhiều hoành phi câu đối và đồ đồng, đồ sứ giá trị.

Bái Ân là một làng cổ vốn nằm ven con sông Thiên Phù ngày xưa nên thuận lợi giao lưu buôn bán. Làng xưa có tên là Bái, truyền thuyết kể rằng: Khi về Thăng Long thuyền vua Lý Thái Tổ đã ghé thăm làng, dân làng đã nô nức ra đón và dâng vua tấm lụa. Cảm kích trước lòng dân ân nghĩa, vua mới ban cho làng Bái thêm một chữ Ân, thành làng Bái Ân.

Thấy nơi đây có phong cảnh đẹp, nhà vua đã cho người trong tôn thất có học vấn về làng mở trường dạy học. Trường Bái Ân cũng là nơi dùi mài kinh sử của Lý Thường Kiệt từ lúc nhỏ đến năm hai mươi tuổi, người sau này đã viết nên bản tuyên ngôn đầu tiên của nước Đại Việt chống quân xâm lược nhà Tống trên sông Như Nguyệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”.

Làng còn có ông Nguyễn Đình Hoàn, năm Kỷ Tỵ (1689) đã thi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ làm quan tới chức Binh bộ hữu thị lang, sau này được thăng bồi tụng (phó tể tướng). Tám năm sau, học trò của ông là Nguyễn Công Cơ cũng đỗ tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Binh bộ thượng thư, hành tham tụng. Cả hai thầy trò đều làm quan dưới thời vua Lê Dụ Tông.

Về dòng sông Thiên Phù chảy qua làng nay đã bị lấp, trong cuốn sách “Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ có viết:

“Lại như kinh thành xưa có phường Giáng Khẩu, sau đổi thành phường Hà Khẩu, tiếp giáp với bờ sông Nhị, liền với cái ngòi sông Nhị chảy vào sông Tô, hàng năm bị nước xói không thể giữ cho khỏi lở được. Đời Lê Trung Hưng mới đạc suốt dọc đến phường Hà Khẩu để cho Hoa kiều trú ngụ, các hiệu khách liền làm đơn xin tải đá làm mỏ hàn chắn phía thượng lưu. Từ bấy giờ mới hết nạn xói lở. Ven sông về phía nam dần dần nổi lên bãi phù sa, người đến tụ họp đông đúc. Bởi thế những phường Thái Cực, Đông Hà, Đông Các, nhà ở xen liền mãi đến vạn Hàng Mắm, vạn Hàng Bè, bến Tây Long đều thành đô thị cả…”

Như vậy là việc hàn khẩu ở cửa sông Tô thông với sông Hồng đã xảy ra từ đầu thời Lê Trung Hưng. Căn cứ vào điều ấy có thể suy đoán, cửa sông Thiên Phù cũng được lấp vào thời này, vì chỗ cửa sông ở xa trung tâm đô thị cổ nên mãi tới năm Cảnh Hưng (1746) chúa Trịnh Doanh lệnh chỉ cho làng Bái Ân được canh tác trên các khoảng ruộng trũng vốn là lòng sông Thiên Phù. Theo nhiều tài liệu Quán Cây, Ao Cá làng Bái Ân là một đoạn còn lại của sông, cũng trùng với vạch chảy của sông theo bản đồ thời Hồng Đức (1490).

Cùng với giấy dó Bưởi, lĩnh lụa Trích Sài, giấy sắc làng Nghè, kẹo mạch nha An Phú, làng Bái Ân xưa cũng nổi tiếng với nghề dệt lụa. Làng còn có chùa Dụ Ân thờ Phật - một ngôi chùa trang nghiêm trầm mặc nằm sát cánh đồng. Thời tiền khởi nghĩa, chùa cũng là nơi lui tới của nhiều lãnh tụ như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Quyết và nhiều cán bộ về đây xây dựng phong trào cách mạng của Đảng. Làng xưa giờ thành một phố làng trù phú, đi trong làng thấy nhà cao tầng nhấp nhô choáng ngợp, cỏ cây hoa lá xanh tươi đến ngát mắt. Theo các cụ già trong vùng kể lại thì hội đình ngày xưa vui lắm.

Đến ngày hội, suốt từ sáng sớm, tiếng trống, tiếng chiêng đã nổi lên vang dội, quanh đình và đường làng rợp cờ thần ngũ sắc, đường làng ngõ xóm người đi xem hội chen lấn. Khi dân làng cùng khách thập phương tề tựu đông đủ dâng phẩm vật thì lễ tế thần được diễn ra trang nghiêm thành kính sau đấy là lễ rước thánh.

Trong tiếng trống, tiếng chiêng thúc gọi, đi đầu đoàn rước là đoàn múa sư tử, múa bồng. Đoàn cờ ngũ hành có hoả bài lộng lẫy. Đoàn bát âm gồm trống cái, trống khẩu, trống bảng và nhạc cụ dân tộc. Đoàn các cụ bà với cờ phướn nhà Phật. Ba kiệu bát cống được 24 trai làng tuổi đang xuân sắc, khăn nhiễu, áp đỏ, quần xanh, thắt lưng hoa lí, bước đi theo nhịp trống uy nghi tề chỉnh. Trên kiệu có ba long ngai được đoàn hộ tống tiền hô hậu ủng với tàn vàng lọng tía uy nghi lộng lẫy. Kiệu bà có hòm sắc mang theo được đi trước (bởi theo dân gian bà đã gieo mình xuống trước). Tiếp theo là đoàn rước long đình và đồ tế tửu. Đoàn các cụ ông, cụ bà với trang phục dân tộc bước đi chậm rãi, tiếp đến là đoàn các cô trinh nữ trong các dòng họ đội mâm lễ vật với đôi môi thắm đỏ rồi đoàn thanh niên thanh nữ cùng dân làng và khách thập phương kéo theo nô nức.

Vào ngày hội, hai làng Bái Ân và Yên Thái cùng phối hợp rước thánh bởi là hội chung. Đoàn rước ông thánh Chú từ đình Bái Ân theo đường làng vòng đến ngã ba Kiệu Quỳ đón ông anh. Đoàn rước vợ chồng thần Vũ Phục từ đình Yên Thái theo đường cái quan (Lạc Long Quân) đến ngã ba Kiệu Quỳ. Khi hai đoàn rước gặp nhau thì kiệu ông em quỳ xuống chào ông anh (người khiêng kiệu phải quỳ). Kiệu ông anh cũng quỳ xuống đáp lễ. Rồi hai đoàn rước quay vào vùng Ao Cá tới miếu Quán Cây là nơi ông thánh Chú hoá, dừng kiệu làm lễ. Ở đây đã có hai phiến đá tự nhiện để bày lợn béo đã giết thịt. Cúng xong đổ bát tiết xuống ao theo tục lệ. Lễ xong, trong tiếng trống tiếng chiêng nổi lên vang dội, người rước khởi kiệu, kiệu ông anh lại rước vào đình Yên Thái, kiệu ông em lại rước về đình Bái Ân.

Trong năm còn một ngày hội kỵ của ông thánh Chú vào mồng 6 tháng Chạp, kiệu rước đình cùng choé nước lên vùng cống gần chùa Thiên Niên lấy nước dẫn từ sông Hồng.

Nhìn từ xa, thấy đoàn rước hai làng rồng rắn quanh co, cờ phướn, quần áo và hoa đỏ trời đỏ đất, người người chen lấn hân hoan hồ hởi, tiếng nói tiếng cười rộn vui huyên náo. Vùng Ao Cá sóng nước lung linh, tàn vàng lọng tía cờ kiệu in hình soi bóng đẹp đến bỡ ngỡ. Thật là một bức tranh hoành tráng đầy màu sắc của lễ hội mùa xuân.

Rước xong thì đến phần hội. Trong các bãi rộng ở sân đình, người xem hội đông như kiến, chỗ này xem đánh đu, chỗ kia xem cờ người rồi xem hát ca trù, cuộc vui diễn ra đến tối thì sân đình tổ chức hát chèo…

Đất nước đang đà đổi mới, mọi giá trị mang tính dân gian và dân tộc đang được khơi dậy thì hội làng Bái Ân, một vùng đất cổ mang đầy dấu tích lịch sử văn hoá và huyền thoại quả là một nét đẹp ấm áp của làng quê.

Theo Lễ hội Thăng Long, Lê Trung Vũ (cb), NXB Hà Nội, 2001.
Đăng lúc: 05/07/2011 11:45

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối