Hội làng Giá

“Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy” là câu phương ngôn quen thuộc chỉ những trò diễn ra lễ hội cuốn hút lòng người của xứ Đoài xưa

 “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy” là câu phương ngôn quen thuộc chỉ những trò diễn ra lễ hội cuốn hút lòng người của xứ Đoài xưa. Bơi Đăm là một trò diễn của lễ hội làng Đăm (xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội), hội Thầy tức là hội chùa Thầy và rước Giá là một trò diễn ở hội làng Giá.

Hội làng Giá - Ảnh internet

 

Làng Giá, thời trước có tên là Kẻ Sở, rồi đổi Cổ Sở và bấy giờ bao gồm cả đất xã Đắc Sở và xã Yên Sở. Nằm ven bờ sông Đáy và trục đường bộ từ kinh kỳ lên xứ Đoài thuở xưa, Kẻ Giá, với vị thế địa - văn hóa,địa - chính trị của mình, trở thành một thị tứ sầm uất. Bến Giá, Chợ Giá, Bến Lụa v.v… từ lâu đã nổi tiếng khắp xứ Đoài[1]. Nhưng kẻ Giá cũng đi vào lịch sử như một làng chiến đấu lâu đời oai hùng. Lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương làng Giá đã thấm đượm, mồ hôi và xương máu của bao nhiêu thế hệ, được ghi vào sử sách, vào ký ức dân làng bằng những truyền thuyết và những chứng tích vật chất như Mả Thánh, rừng Cấm, Gò Gio, Mả Gạo, Quán Giá, chùa Bến v.v…

Nhân vật trung tâm của lễ hội làng Giá chính là một người con của làng: anh hùng Lý Phục Man. Truyền thuyết về nhân vật này được ghi chép rất sớm vào sử sách. Thế kỷ XIV, Việt điện u linh chép:” Bấy giờ thiên hạ gặp buổi mờ tối, nguời hào kiệt phải giấu họ tên. Đại vương còn trẻ tuổi, phong tư và tài nghệ khác thường, cưỡi ngựa bắn cung đều giỏi, có uy đức lại có sức trị được voi. Vương giúp vua Lý Nam Đế, vua thấy tài mạo, biết là bậc đại trượng phu, có thể đảm đương một mặt trận, bèn cho theo việc binh, lập được nhiều công to. Sau thấy đất Đỗ- động ở biên giới, một nơi xa và hiểm, phi Đại vương không ai cai trị nổi, vua mới cho Vương làm đại tướng trấn thủ ở nơi đó. Một hiệu lệnh của vương ban ra, những kẻ hùng trưởng đều phải nín hơi, trộm cướp về hàng phục, dân trong hạt rất yên vui, già trẻ đều cảm ơn đức.

Quân Lâm - ấp (tức là Chiêm - Thành) vào cướp quận Cửu - Đức. Được tin báo cấp, triều đình họp bàn việc đi đánh, các quan đều nói: " Tất phải Đỗ động tướng quân mới dẹp được giặc này". Vua bèn cử Đại Vương đốc xuất các tướng binh vào Nam, phá tan quân Lâm - ấp ở Cửu - Đức. Tin thắng trận báo về kinh đô, vua khen ngợi hồi lâu, bảo các quan rằng: "Tre già mới biết dao sắc, nghĩa là có gặp lúc gian nguy mới biết người tài giỏi. Nay Đỗ động tướng quân bắn vài phát tên mà tan quân giặc dữ, thật là một người hào kiệt đất Sơn Tây, dẫu bậc danh tướng thời xưa cũng không hơn được, cần phải trọng thưởng”. Vua bèn nhân Vương có nhiều công chinh phục các rợ, đặt tên là Phục Man, cho theo họ nhà vua là họ Lý lại gả công chúa Lý Nương cho Vương và thăng chức Thái úy, giữ chính quyền đứng đầu các quan, Thái úy có tính trung hậu thanh liêm, phàm bàn việc gì cũng theo lẽ công bằng ngay thẳng, mạnh bạo can ngăn vua, không dung tha kẻ có lỗi, đàn hặc kẻ lộng quyền, không e sợ gì cả. Trong ngoài ai cũng kính phục gọi là Phục Man tướng công”.

Tại Yên Sở, truyền thuyết dân gian kể Phục Man tướng công đã lấy công chúa Lý Nương, con gái Lý Nam Đế. Đồng thời, trong Góp phần vào nghiên cứu vị thành hoàng Lý Phục Man, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên còn ghi lại truyền thuyết về một người vợ của Lý Phục Man ở làng này. Bà tên là Á Nương. Vốn là một cô đầu hát, bà đến đây để hát chầu vị thành hoàng trong lễ hội, bỗng nhiên biến mất để lại quần áo ở làng. Sau đó trong làng Yên Sở có nhiều người chết người ta đi xem bói và xem chân giò mới biết trong làng xuất hiện vị thần mới. Đáng chú ý ở làng quê Á Nương , có một cái gò rât thiêng mà không ai dám vi phạm, ở thôn Thượng Khê, có một thửa ruộng mà ở phía tây của thửa đất này có một hòn đá hình con rùa mà người dân gọi là đất rùa, dài 2 thước 6 tấc, rộng 1 thước 8 tấc. Tương truyền thửa đất và hòn đá linh thiêng này thuộc quyền sở hữu của Á Nương( phúc thần làng Yên Sở).

Toàn bộ truyền thuyết về người anh hùng Lý Phục Man đã lắng đọng tại Yên Sở, sống với thời gian và tâm thức dân gian trong di tích và lễ hội ở đây. Nói cách khác, người dân Yên Sở đã thờ cúng một vị anh hùng dân tộc. Đó là tín ngưỡng hay lòng biết ơn tổ tiên, thật khó mà tách bạch được rõ ràng.

Sự thể hiện của tín ngưỡng này là ngôi đình và quán Yên Sở. Đó vừa là thiết chế vật chất của tín ngưỡng, vừa là không gian lễ hội Kẻ Giá, tức xã Yên Sở và Đắc Sở hôm nay.

Ngôi đình làng Kẻ Giá thờ Lý Phục Man, hiện tại không còn nữa nhưng là một ngôi đình đặc biệt: đình không xà. Năm 1947, thực dân Pháp đã đốt nó. Bởi vậy,” chúng ta chỉ còn có thể tiếp cận vẻ đẹp qua sự miêu tả của tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên trong công trình "Góp phần vào việc nghiên cứu một vị phúc thần An Nam Lý Phục Man". Chiều ngang của đình là 34m, chiều sâu 13m50, mặt đình day ra lòng sông về phía tây nam. Nóc đình kiểu 4 mái to lớn khác thường, đặt trên những cột bằng gỗ rất to. Bốn góc được uốn cong thành đao đầu rồng. Bờ nóc chạy suốt chiều ngang ngôi đình xây bằng lại gạch hoa làm bằng đất nung, hai đầu có hai con rồng giương vuốt. Đình chia làm 5 khoang lớn và hai khoang đầu hồi có thể gọi là hai chái. Mỗi khoang có hai vì kèo sáu cột đặt trên tảng đá tảng. Hai cột giữa được nối với nhau bẳng một xà câu đầu. Những cột giữa hay cột cái được nối liền với những cột con ở mặt tiền hay mặt hậu bằng những kèo chạm hoa lá hay long, ly, qui, phụng. Chính những kèo này gánh hết sức nặng của mái. Hai vì kèo gian giữa là gian ban thờ khác với các vì kèo khác ở chỗ cơ chắp nối với những cột con ở mặt hậu. Như vậy, ta thấy rằng, ngôi đình được dựng bằng những vì kèo biệt lập, chỉ được nối với nhau bằng phần nóc và những đòn gỗ đòn tay ngoài riềm mái đình. Các cột không được nối với nhau theo chiều dọc. Và chính đây là đặc điểm của nó, khiến nó khác hẳn với các ngôi đình làng khác ở châu thổ Bắc Bộ. Kiến trúc của các bộ phận trong đình mang tính mỹ thuật cao. Những hoa văn hình rồng quấn chúc, rồng chầu một vầng thái dương rực lửa, khiến cho ngôi đình có một vẻ đẹp có một không hai ở xứ Đoài[2].

Thiết chế vật chất còn lại là quán Giá. Nó hưởng một vị trí thật đẹp. Ngày trước, bao quanh ba mặt quán là một khu rừng cấm, toàn bộ quán và sân nằm trên diện tích chừng 6000 mét vuông. Trong hàng cổng ngoài, hai bên con đường trung đạo có xây hai trụ vuông bằng gạch, trên đầu trụ có trang trí đầu rồng và đỉnh trụ là hình bốn con phượng kết cánh chổng lên trời làm thành một cái hoa to có hình bốn cánh kép. Bức tường thứ hai được trang trí bằng gạch đó có hình chạm nổi. Tường phía đông có 23 viên, tường phía tây có 26 viên. Các hình chạm trên các viên gạch không giống nhau. Đó là hình các con vật như rồng, phượng, voi, hình người đánh cờ, hình ông chài, chàng thư sinh. Đáng lưu ý hòn thứ 11 có lời chúc già trẻ trong làng được phú, thọ, khang, ninh. Dải bên đông kết thúc bằng một loạt cảnh sinh hoạt, dải bên tây kéo dài bằng một dãy hình 12 hình quả trám. Nhìn nhận các họa tiết này, người ta đánh giá không giống nhau, có người coi đó là cảnh sinh hoạt, có người lại cho đó là những tích trong Phật thoại. Dù thế nào, những viên gạch có hình chạm này vẫn là những họa tiết được tạo ra bằng một bàn tay khéo léo, tài hoa. Qua nghi môn hai bên là hai dãy hành lang, ở giữa là một sân cỏ rộng chừng 22m2. Kế tiếp là một sân gạch trên nền tam cấp rộng 15m70 dài 12m25. Chính diện gồm có ba ngôi đình song hành từ ngoài vào trong là hạ đình, trung đình và thượng đình. Hạ đình là một ngôi đình rộng 16m30, sâu 8m80, bờ móc được trang điểm bằng hai con rồng lớn đang tiến đến vừng dương làm bằng một miếng kính tròn màu đỏ, chung quanh đắp thành hình những ngọn lửa đang rực sáng. Mặt tiền của ngôi đình được che bằng hàng liếp đan. Giữa hạ đình và trung đình là một khoảng cách đủ chỗ cho một cái máng bằng đồng hun, để hứng nước mưa. Hai ngôi trung đình và thượng đình chỉ có 6m40 chiều sâu và 12.60 chiều rộng. Giữa trung đình có một bệ vuông xây bằng gạch dùng làm chỗ bày lễ vật ngày khánh tiết. Sau cái bệ là một cái bàn bày lư hương, nến, và hai bình hương. Sau cái bàn này là một cái bàn nhỏ và thấp hơn đặt ba đài rượu. Rồi đến một bàn thờ có ba chiếc ngai lớn mang bài vị phủ nhiễu điều. Hai bên tả hữu là tượng quan hầu của thần. Trong thượng đình là một cung cấm có một bàn thờ và năm pho tượng: ba pho ở giữa là tượng Lý Phục Man (chính giữa), Lý Nương và Á Nương ở hai bên. Phía ngoài tả và hữu là hai thị nữ.

Hai ngôi thượng đình và trung đình được nối với nhau bằng một hàng hiên đóng kín. Toàn bộ hợp thành hình chữ công. Tường ngoài của ngôi đình chạy theo hình vuông của chữ quốc. Như vậy, quán Yên Sở được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc. Sát tường bên tây của hạ đình là một bể nước mưa hứng từ máng đồng hun. Sau bể nước mưa là nhà bia.

Tại nhà bia này còn năm tấm bia đá, tấm cổ nhất có niên đại năm 1620, sau đó là tấm có niên đại 1663, rồi tấm bia thứ 3 có niên đại 1728, tấm thứ tư có niên đại 1803 và tấm bia thứ năm có niên đại 1855. Nội dung văn bia là những tư liệu vô cùng quí giá ghi lại tích của Lý Phục Man một số sự kiện lịch sử của làng cùng với việc tu tạo đình quán, chép lại một số qui uớc, tập quán, lệnh chỉ, sắc phong của các triều đại cho Lý Phục Man. Khắp châu thổ Bắc Bộ, không phải đình nào cũng có một số lượng bia đá quí giá như vậy.

Đối xứng với nhà bia, ở phía đông là nhà để con ngựa bằng đồng hun, con ngựa này được đúc năm Vĩnh Thịnh thứ ba (1707), ngày nay được sơn trắng.

Đằng sau thượng đình là một cái sân con ở giữa có một bình phong với một hòn non bộ. Thực ra, quán / đền Giá đã qua nhiều lần trùng tu. Văn bia tại quán giá còn ghi lại các niên đại này. Theo truyền thuyết, năm 1026, Lý Thái Tổ lập đền. Năm 1257, đền được sửa lại, năm 1608 xây hai cột đình trụ, năm 1682 khắc nhiều bia, xây thêm thềm đá và nghi môn. Tuy thế điện thần của quán Giá vẫn không thay đổi. Cũng không rõ từ khi nào, người dân thờ cúng anh hùng Lý Phục Man với nhị vị phu nhân như hiện nay, nhưng việc trùng tu được tiến hành dưới thời vua Thành Thái (1889-1907).

Việc thờ cúng Lý Phục Man "các làng Yên Sở và Đắc Sở đều được tổ chức theo lối khác nhau", hai làng Yên Sở, Đắc Sở của làng Kẻ Giá xưa chỉ tổ chức chung ngày hội để tưởng nhớ Lý Phục Man.

Những ngày đầu tháng ba, kỳ mục của hai làng bắt đầu họp để phân công các việc của lễ hội.

Lễ hội được tổ chức từ ngày mồng mười đến ngày 26 tháng ba hàng năm và có hai phần rất rõ: phần rước và phần tế.

Nghi thức rước là nghi thức đặc sắc nhất, riêng biệt nhất của hội làng Kẻ Giá.

Ngày 10 tháng 3, các giáp của hai thôn Yên Sở, Đắc Sở, cùng thôn Diễn Xá, Đại Đồng, Yên Thái mang lễ vật đến đình Yên Sở. Khoảng 10 giờ là nghi thức xin phéo thần cho trang trí lại ngôi đình. Cỗ kiệu lớn của thành hoàng được lắp ráp lại, con ngựa bằng đồng hun được kéo vào sân. Chiều ngày 10/3 cả hai làng đi rước bài văn tế ở văn chỉ thuộc địa phận làng Yên Sở, ở đây chỉ là đám rước văn tế. Hai làng Yên Sở lại tiến hành những đám rước khác nhau. Đám rước của làng Đắc Sở vào ngày lẻ. Xuất phát từ đình, đám rước của làng Đắc Sở đi theo con đê, đi đầu là người vác giáo, rồi người cầm tù và. Kế tiếp là một hàng dài gồm 20 lá cờ vuông, cờ ngũ hành, hai lọng vàng, hai tàn vàng, một chiêng một trống cái. Bốn người khiêng một cái bàn trên đó đặt các thứ tế khí, lư trầm, nến đèn, hai con hạc, hai bình hoa. Sau cái bàn này là 8 người mang bộ bát bửu dàn thành hai hàng. Theo sau là người mang phủ việt, dùi đồng, 12 người mang hồng trượng, hai người mang tán thêu. Kế đó là phường nhạc với ba nhạc cụ: nhị, sáo và cảnh, rồi cỗ kiệu văn. Đằng trước kiệu là 4 đèn lồng, hai tán và hai quạt đi theo che cho kiệu. Đi sau kiệu là hai vị bô lão: một vị mặc áo thụng xanh, đi hia đội mũ, một vị mặc áo thụng thâm, đội khăn thâm đi hia đội mũ. Kế hai vị là hai lá cờ.

Tất cả những người khiêng vác này đều mặc áo đỏ, có cổ cao, ống tay dài. Trong đám rước còn có 36 em mặc áo dài thâm, khăn thâm và mặc quần trắng, đi chân đất, ngoài áo dài có một cái thắt lưng đỏ, được tết múi phía bên trái. Các em này được chọn trong trẻ em của làng, không phân biệt con nhà ai, miễn rằng các em không có tật nguyền gì, hay trong nhà không có tang chế. Các em cầm một lá cờ nhỏ màu vàng hay vàng sẫm trên tay. Người làng gọi các em là tổng cờ. Các tổng cờ này đạt dưới quyền chỉ huy của một ông trạc bốn mươi tuổi, gọi là ông thủ hiệu. Ông này chỉ huy 36 em tổng cờ bằng một cái chiêng con. Khi ông ta đánh chiêng thì các em đều đồng thanh kêu to: Lai ré hè ré. Sau khi rước được văn tế, người ta quay trở lại đình quán Yên Sở, qua đình Đắc Sở. Khi về tới cửa quán, sau 3 tiếng trống, đám rước lại tiến bước, tới nơi, tất cả những người vác cờ và tế khí đều đứng ở ngoài, hai bên tả hữu sát nghi môn. Ông thủ hiệu và các tổng cờ tiếp tục vào sân tế.

Trong khi đó, đám rước làng Yên Sở lại tiến hành vào ngày chẵn, xuất phát từ quán đến văn chỉ. Những người tham gia đám rước này phải là người trong làng Yên Sở. Những người khiên vác đồ tế khí đều ăn mặc như Đắc Sở. Riêng các tổng cờ có tới 48 em. Đám rước của làng Yên Sở khác đám rước của làng Đắc Sở ở chỗ có những cụ già trong làng giữ vai quan hầu của thần. Các cụ hạ lão và trung lão của hội đồng kì mục mặc áo đỏ, khuy áo đều ở bên phải, áo bó chặt lấy người bởi một thắt lưng màu lục mà múi thì được tết ở phía hông bên phải. Các cụ đều đội nón rơm có vành rất rộng (xưa kia nón này làm bằng gỗ). Quần của các cụ là màu trắng. Trong tay mỗi cụ cầm một cây roi dài một đầu sơn son thếp vàng. Mười cụ chia thành hai hàng đi trước hương án, mười cụ chia thành hai hàng đi trước kiệu văn. Một cụ khác cũng ăn mặc y như vậy, cầm chiêng chỉ huy các em tổng cờ, mỗi khi cụ đánh chiêng, các em lại đồng thanh la lên bốn tiếng: Lai ré hè ré. Đám rước đi theo hàng lối nhất định, với trật tự: đi đầu là người múa sư tử, sau đó là tuần đinh mang roi, giáo, tù và, rồi 20 lá cờ thần. Tiếp sau là chiêng, trống cái có lọng che, dùi đồng, phủ việt, hương án, phường nhạc, tàn, hai tấm bảng sơn son thếp vàng với hai dòng chữ: thanh linh, uy viễn, bát bửu, rồi đến các tổng cờ chia hai hàng dưới quyền chỉ huy của ông thủ hiệu. Cũng nằm trong đội hình rước còn có hai lá cờ vuông, bốn đèn lồng, hai cái tàn, hai cái quạt vả vẽ rồng, một phường bát âm, một cỗ kiệu,một trống cái. Đi sau cùng là bốn lá cờ vuông. Khi đến văn chỉ, cũng chỉ có các tổng cờ, các quan hầu của thần và cỗ kiệu là được vào sân, còn lại ở bên ngoài, đứng hai bên đường. Xong nghi thức này, người ta lại rước về con đường cũ với trật tự đội hình như lúc ra đi.

Đáng lưu ý nhất trong lễ hội của Yên Sở là lễ tế cờ rất trang nghiêm, thiêng liêng. Nơi sân quán là đội hình thanh niên, trai tráng trong làng đông tới hàng trăm người, sau lễ tế cờ là trò diễn “nghiêm quân”. Tất cả đội hình được sắp xếp tài tình theo hình trôn ốc, người tướng cầm lá cờ đại phá vòng vây rất tài tình.

Trò diễn, trên lát cắt đồng đại thể hiện cuộc phá vây của người tướng, cũng như sự luyện quân, nhưng tầng sâu của trò diễn chính là tín ngưỡng thờ mặt trời. Màu áo đỏ, việc múa lượn theo vòng xoáy trôn ốc, ngược kim đồng hồ, chính là những tín hiệu foklore cho ta hiểu những tín ngưỡng xa xưa đã bị khuất lấp bởi thời gian và các lớp sa bồi văn hóa - lịch sử. Những tiếng la là lạ của các em nhỏ làm nhiệm vụ tổng cờ, ngay thời làm cuốn sách về Lý Phục Man, tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên đã khẳng định là tiếng thể hiện hèm của thần, phải chăng là ảnh xạ của khát vọng cầu mưa của cư dân nông nghiệp. Sự đan xen các lớp văn hóa tín ngưỡng trong lễ hội thờ cúng vị thành hoàng của người dân Kẻ Giá khiến hôm nay chúng ta khó nhận ra từng yếu tố. Cũng khó mà tách bạch được đâu là thái độ kính trọng ngưỡng mộ của người dân các thế hệ với người anh hùng, đâu là tín ngưỡng thờ cúng thành Hoàng, đâu là tín ngưỡng thờ thần mặt trời, đâu là nghi thức cầu mưa cho cư dân nông nghiệp. Dù sao, nói đến lễ hội làng Kẻ Giá, là phải nói tới trò diễn rước. Hùng tráng, trang nghiêm, linh thiêng, từ số lượng cờ đông đảo, tới trò “nghiềm quân” rước Giá như một bản sắc văn hóa của làng Yên Sở, làm thành một gương mặt văn hóa khó lẫn so với các làng quê bình dị khác.

Cùng nghi thức rước là việc tế lễ. Lễ vật trong ngày hội của làng Kẻ Giá được dành cúng Thành hoàng là xôi, gà ,oản, chè kho và bánh cuốn. Có một số ngày người ta còn cúng bò. Đáng lưu ý là những con bò này đều được thui cả con ở bờ máng nước chảy phía đông ngôi đình, sau đó đạt trên bàn để cúng thần.

Việc tế lễ diễn ra theo nghi thức chung của nghi thức cúng tế các thành hoàng ở đình làng quê xưa. Đáng chú ý là lời văn tế. Ở Kẻ Giá, mỗi dịp tế lễ có một lòng văn khác nhau, phần đầu và phần cuối của bài văn tế không thay đổi. Chẳng hạn, lòng văn của bài văn tế mồng một tết:

Đại vương

Dáng điệu thông minh

Tính tình quả cả

Công nhiều giúp nước, độ dân

Sức lớn trừ tai, hãm họa

Trăm điều tốt đều nên

Mọi việc may đều đạt

Cho dân con được sống cảnh thanh bình

Hoặc bài văn xin mở hội:

Cúi mong thần rộng lòng chứng giám

Để thấu hiểu tấm lòng thành kính của dân con

Để độ cho cả làng được ấm no hạnh phúc

Muôn điềm lành dồn lại nơi đây

Để mọi nhà vuông tròn mĩ mãn

Như vậy, gạt đi lớp văn hóa Nho giáo vào lễ hội ở các nghi lễ thưa gửi xin lạy, âm hưởng chính của phần lễ nghi là người xưa muốn gửi gắm ở Lý Phục Man sự phù hộ độ trì cho một cuộc sống bình yên, thịnh vượng.

Đường dây tín ngưỡng để qui tụ các hành động hội chính là sự thờ cúng người anh hùng, như lời văn khắc trên bia đá Thuật thần từ bi: " Từng nghe: có công với nước thì được thờ cúng. Có đức với dân thì được thờ cúng. Dẹp yên tai họa thì được thờ cúng, dẹp bỏ nguy nan thì được thờ cúng". Nếu chưa tính các lớp văn hóa khác lắng đọng trong lễ hội thì chỉ riêng yếu tố tín ngưỡng này của lễ hội làng Kẻ Giá đã là một thái độ văn hóa đáng trân trọng.

Tuy nhiên, nhiều lớp tín ngưỡng như tục thờ mặt trời, tục cầu mưa… đã đọng lại trong các hành động ở lễ hội này, khiến nó có diện mạo như chúng ta thấy hôm nay.

Dù thế nào, lễ hội làng Kẻ Giá vẫn có một nét riêng khó trộn lẫn trong lễ hội xứ Đoài. Tính hoành tráng, đồ sộ của trò diễn rước, chính là nét riêng ấy.

Theo Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Nhiều tác giả, Sở Văn hóa Thông tin HàTây, 1999
Đăng lúc: 05/07/2011 10:33

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối