Nghệ thuật đất Thăng Long

Đặc trưng của nghệ thuật Thăng Long là tính đa dạng, tính tinh chọn và tính thẩm mĩ.

Nghệ thuật Thăng Long giữa trung tâm giao lưu văn hóa của cả nước đã có nhiều thuận lợi để chọn lựa và tiếp thu những nhân tố tích cực của nước ngoài. Trong hoàn cảnh nói trên, trải qua cả một nghìn năm, nghệ thuật Thăng Long đã phát triển rực rỡ về chất lượng và số lượng. Các loại hình nghệ thuật cũng như những nét đặc sắc trong từng loại hình đã góp phần tạo nên những tinh hoa của văn hiến Thăng Long. Không phải mọi loại hình nghệ thuật đều sản sinh từ Thăng Long, nhưng mọi loại hình nghệ thuật từ mọi miền đất nước đều được thưởng thức ở Thăng Long, được thẩm định và khuyến khích từ Thăng Long.

Tính đa dạng của nghệ thuật Thăng Long không chỉ ở sự hội nhập các loại hình nghệ thuật: ca múa, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điêu khắc… mà trong mỗi loại hình nghệ thuật này người ta đã thấy rõ sự phong phú về thể loại, về hình thức và thủ pháp. Sự đa dạng và phong phú nói trên đều phát triển ở nghệ thuật cung đình và nghệ thuật dân gian, vừa khẳng định bản sắc dân tộc vừa tiếp thu sáng tạo những tinh hoa của nghệ thuật nước ngoài. Có thể nêu lên một số đặc điểm như sau:

Nghệ thuật Thăng Long có ý thức gắn liền với sản xuất lao động và sinh hoạt hàng ngày

Nhịp chày giã gạo, cũng hóa thành những âm thanh trầm bổng hòa cùng tiếng hát mừng thành quả của một chặng đường lao động nhọc nhằn. Nhịp trống thúc trong những cuộc đua thuyền làm cho những ngày hội nước thêm náo nhiệt tưng bừng và mọi động tác đã được rút ra từ công việc lao động tạo sự nhịp nhàng cho các tay trống tay chèo. Múa Lục cúng, múa chạy đàn cắt kết đã nâng cao tính chất trang nghiêm và thẩm mỹ trong nghi lễ cầu siêu của tín ngưỡng Phật giáo.

Nghệ thuật sân khấu mà đặc biệt là thể loại múa rối đã gắn với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Điều này được thể hiện rõ nét từ đề tài đến nội dung các trò rối như: Rùa vàng phun nước, Nhà sư thỉnh chuông, úp nơm, chăn vịt, dệt cửi và nhân vật hề độc đáo: Chú Tễu.

Nghệ thuật Thăng Long lại còn mang đậm tính chiến đấu, tinh thần dũng cảm, bất khuất của mọi tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy tất cả các tiết mục của chèo dù khai thác đề tài nào trong nước hay mượn tích truyện các nước láng giềng đều nhằm nêu gương trung hiếu, tiết nghĩa của các anh hùng liệt nữ cứu nước giúp dân. Các vở diễn Hưng Đạo phá Nguyên, Trần Bình Trọng tử tiết, Đào viên kết nghĩa, Hồng Môn hội ẩm đều là ngợi ca đạo lí, đạo đức.

Trong lễ hội làng Gióng, múa ông hổ, múa cờ lệnh là những điệu múa tượng trưng cho linh khí dũng mãnh, sức mạnh phi thường của Thánh Gióng, đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Năm Trung Hưng thứ 4 (1288) sau chiến thắng quân Nguyên, vua cho mở tiệc ba ngày gọi là Thái Bình diên yếu, kinh đô Thăng Long treo đèn kết hoa. Trong những ngày này, các loại hình diễn xuất bao gồm: kèn, trống, múa hát, pháo bông, pháo hoa… đã tạo nên không khí hào hùng của ngày vui chiến thắng.

Trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở Thăng Long đã có đến hàng ngàn ngôi chùa, đền, hàng vạn pho tượng Phật, Thánh mẫu và các anh hùng cứu nước, cứu dân. Hai bức tượng đồng ở hai ngôi đền Trấn Vũ (một ở phố Quán Thánh quận Ba Đình, một ở làng Cự Linh huyện Gia Lâm) được tạo dáng với những chi tiết rất chọn lọc nhằm nhấn mạnh tính huyền thoại và tính biểu tượng của một đấng anh linh nước Việt. Tượng Hai Bà Trưng toát lên lòng yêu nước và ý chí quật cường của hai người anh hùng tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam.

Nghệ thuật Thăng Long luôn luôn tiếp thu và nâng cao truyền thống dân tộc từ mọi miền của đất nước

Thăng Long là trung tâm văn hóa, là nơi tập trung những con người có trình độ thẩm mĩ cao. Công chúng Thăng Long là những người biết lựa chọn và có trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật. Điều này là nhân tố thu hút những nghệ nhân các cõi trong nước về Thăng Long sinh sống và sáng tạo nghệ thuật. Những thành tựu nghệ thuật từ xa đưa về, được hội tụ lại, được chắt lọc và nâng cao thêm. Bởi vậy, nghệ thuật Thăng Long có giá trị cao về thẩm mĩ, vừa đa dạng về thể loại, vừa trau chuốt về hình thức.

Chính tại nơi đây thành tựu âm nhạc đã được đúc kết và hệ thống hóa. Lí thuyết âm nhạc dân tộc đã được xây dựng với âm luật Hồng Đức. Lịch sử còn ghi nhận những thành tựu âm nhạc rực rỡ khác trên đất Thăng Long ở nghệ thuật hát chèo, hát ca trù.

Nghệ thuật múa Thăng Long mang nét độc đáo và có sức sống bền vững từ Kinh đô tới các vùng phụ cận. Thăng Long có thể đã có tới 50 điệu múa khác nhau: múa trong lễ hội, múa trong sinh hoạt cung đình2… Trong đó, có những điệu múa là của riêng Thăng Long như: Múa trống bồng (ở hội Triều Khúc), múa cờ lệnh (hội Gióng).

Trong loại hình sân khấu, các thể loại: rối, chèo, tuồng, ngày một định hình và phát triển vừa đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người Thăng Long, vừa phát huy ảnh hưởng ra toàn quốc và tiếp thu thêm những nhân tố sáng tạo của các địa phương. Qua hơn chín thế kỉ, Thăng Long đã hội tụ vào mình đầy đủ những tinh hoa của múa rối từ các địa phương.

Rối cạn Đình Bảng, Tam Sơn, Tây Tựu, Tràng Sơn, rối nước ở Sài Sơn, Phú Đa, Đào Thục, Hà Thương…3. Trong khi đó, không gò bó vào quy định trói buộc, ra biểu diễn trong các cung đình, nơi công môn cũng như các cửa đình, bãi chợ, nghệ nhân Thăng Long chỉ học những gì thuận tai vừa mắt để nâng cao tài nghệ. Điều này khiến cho các tiết mục của nghệ nhân Thăng Long không lệ thuộc và rộng mở, phóng khoáng với nhiều nhịp luyến láy đạt hiệu quả và giá trị cao.

Hấp thu tinh hoa nghệ thuật của các địa phương rồi nghệ thuật Thăng Long lại lan tỏa ra các vùng lân cận và toàn quốc. Phương thức sử dụng âm nhạc và nhiều điệu múa Thăng Long đã trở thành những nghi thức tế lễ của các hội làng trên toàn miền Bắc. Những chuẩn mực của nghệ thuật Thăng Long còn lan sang cả những nguyên tắc ứng xử, những hoạt động và phương thức biểu diễn của các nghệ nhân trong các giáo phường.

Những mô hình văn hóa nghệ thuật từ Thăng Long lan ra các địa phương, đôi khi được bổ sung thêm và quay ngược trở lại Thăng Long. Phải chăng điều đó lí giải tại sao nhiều vùng phụ cận của Thăng Long trước đây (nay đã thuộc địa phận Hà Nội) như: Đông Anh, Gia Lâm… lại bao gồm những thể loại thi ca múa nhạc cửa đình và sân khấu chuẩn mực, tinh tế gần gũi với nghệ thuật trong kinh thành Thăng Long như thế.

Nghệ thuật Thăng Long tiếp thu nhiều nhân tố tốt đẹp từ nước láng giềng

Với trình độ thẩm mĩ sâu sắc và tế nhị, con người Thăng Long không chỉ biết hấp thu nhanh những tinh hoa văn hóa nghệ thuật toàn quốc và còn nhạy bén trong việc hấp thu những nghệ thuật từ nước ngoài vào mà trước hết là từ Trung Quốc, Chăm pa, Ấn Độ…

Cung nữ Chiêm Thành được đem về Thăng Long múa hát trong yến tiệc nhà vua đời Lý. Nhiều nghệ nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam và có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam và trước hết là của nghệ thuật Thăng Long. Đinh Bàng Đức đời Tống đã đưa vào Thăng Long trò leo dây múa rối.

Trong thể loại sân khấu tuồng, Lý Nguyên Cát4 giỏi diễn các tích xưa. Con em các nhà thế gia đất Thăng Long đua nhau theo học. Các vua quan triều đình cũng chủ động tiếp thu tinh hoa nghệ thuật sân khấu Trung Quốc. Vua Lê Hiển Tông từ những đồ án phục trang của các hình nhân vật in trong truyện Tam Quốc chế ra áo mũ, gươm đao dạy cho cung nhân đánh nhau trên sân khấu khi diễn ra các vai võ thời Ngụy – Thục – Ngô (theo sách Lịch triều tạp kỷ của Cao Lãng).

Trong âm nhạc ở Thăng Long đời Lê Thánh Tông đã từ âm nhạc Trung Hoa sáng tạo nên âm luật Hồng Đức với bốn cung: Nam, Bắc, Hoàng Chung, Đại Thục, trong đó cung Hoàng Chung là tên gọi rút ra từ âm luật Trung Hoa.

Nghệ thuật Thăng Long – sự kết hợp chặt chẽ giữa nghệ thuật cung đình và nghệ thuật dân gian

Trải qua hơn 9 thế kỉ, Thăng Long là mảnh đất tốt cho sự phát triển của các loại hình nghệ thuật ở cung đình cũng như trong dân gian. Nghệ thuật bắt nguồn từ dân gian được gọt giũa, nâng cao rồi lại trở lại dân gian, sự vận động này là cơ sở cho sự phát triển hài hòa giữa phổ cập và nâng cao của nghệ thuật Thăng Long.

Múa dân gian của Thăng Long được lưu giữ và phát triển từ đời này qua đời khác trong các lễ hội làng như: múa bồng, múa sênh tiền, múa rồng trong lễ hội làng Triều Khúc; múa ông hổ, múa cờ lệnh trong lễ hội làng Gióng… Múa cung đình ở Thăng Long cũng muốn khai thác múa dân gian và phát triển không ngừng. Nhiều nghệ nhân có tài múa hát đã tham gia xây dựng múa cung đình và múa cung đình có sự đóng góp của nhiều vua quan và trí thức. Thượng Tướng Trần Quang Khải sáng tác điệu múa bài bông. Đại Vương Trần Quốc Khang múa hổ, Phùng Ngọc Đài cùng Đỗ Anh Vũ, Đinh Lễ… là những người hát hay mua giỏi nổi tiếng ở Thăng Long.

Trong lĩnh vực âm nhạc, bên sự phong phú của sản phẩm thuộc dòng nhạc cung đình bác học, âm nhạc dân gian Thăng Long đã dung nạp nhiều yếu tố của các địa phương trong cả nước lại thừa hưởng những thành quả nhạc cung đình. Thể loại ca trù được phát triển từ rất sớm, là sản phẩm xuất sắc của mối quan hệ giữa tính bác học và tính dân gian.

Nói chung, nghệ thuật dân gian và nghệ thuật cung đình ở Thăng Long đã bổ sung cho nhau. Chất bác học của nghệ thuật cung đình thấm đậm vào nghệ thuật dân gian sự tinh tế trang nhã. Ngược lại, nghệ thuật dân gian đã tiếp thêm nhựa sống dồi dào cho nghệ thuật cung đình để rồi cùng vượt qua những thô sơ nhất thời, tiếp thu tinh hoa nghệ thuật trong nước và nước ngoài vươn tới hoàn thiện.

Đặc trưng thẩm mĩ của nghệ thuật Thăng Long

Thăng Long là trung tâm văn hóa, là nơi quy tụ những nghệ sĩ tài hoa từ mọi miền đất nước, là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra sôi nổi nhất. Vì vậy, đặc trưng của nghệ thuật Thăng Long là tính đa dạng, tính tinh chọn và tính thẩm mĩ. Tính đa dạng thể hiện ở chỗ nghệ thuật Thăng Long phong phú các loại hình nghệ thuật từ văn học, ca nhạc, hội họa đến kiến trúc, điêu khắc, sân khấu. Tính tinh chọn thể hiện ở chỗ văn hóa nghệ thuật, phục vụ cho nhân dân lao động đồng thời phục vụ thị hiếu của tầng lớp thị dân, vua quan triều đình vốn đòi hỏi sự tinh vi về chất lượng nghệ thuật. Tính thẩm mĩ thể hiện ở chỗ nghệ thuật Thăng Long mang tính mực thước, tính trí tuệ và tính tổ chức cao.

Nghệ thuật trang trí của Thăng Long không quá cầu kì như ở Huế, không biểu cảm mạnh mẽ như nhiều công trình kiến trúc ở các miền thôn dã mà thiên về tính mực thước, hài hòa. Đồ án trang trí luôn thống nhất với kiến trúc và sân cảnh, vườn cảnh, ví như những bức tượng trong các chùa Bà Đá, Lý Quốc Sư, Kim Liên, Vũ Thạch bố cục độc đáo, chau chuốt, loại bỏ cá tính vốn là điều thường thấy trong điêu khắc dân gian. Nghệ thuật thủ công ứng dụng ở Thăng Long đã vượt qua giá trị sử dụng, đạt trình độ tạo dáng thẩm mĩ, không chỉ nhấn mạnh công dụng mà còn chú trọng giá trị nghệ thuật của sản phẩm. Thị hiếu thẩm mĩ thị dân biểu hiện rõ nét ở các sản phẩm thủ công mĩ nghệ. Sản phẩm gốm Bát Tràng với nền hoa văn trắng ngà hay men rạn biểu tượng vân mây trời chiều thể hiện óc thẩm mĩ tinh tế của người Thăng Long. Gốm Bát Tràng kết tinh hai yếu tố: giá trị sử dụng và giá trị thẩm mĩ giản dị và mộc mạc, đồng hợp với thiên nhiên và tình cảm.

Đặc điểm thẩm mĩ Thăng Long cũng rõ nét ở tranh dân gian. Nếu ở tranh Đông Hồ, người ta thấy có mĩ cảm của người dân với sự thô mộc đơn giản, khỏe khoắn, hài hước thì tranh Hàng Trống tinh tế, đậm đà và trang trọng. Màu sắc cũng phong phú theo cách riêng, không đơn sắc như tranh Đông Hồ.

Một đặc điểm nữa là: nghệ thuật Thăng Long không chỉ hội tụ tinh hoa của nghệ thuật trong nước hay tiếp thu một cách sáng tạo tinh hoa nghệ thuật phát triển rộng rãi khắp các địa phương trong cả nước. Tuy nhiên, phải thấy rằng so với các nước trong khu vực, Thăng Long chưa phải là một đô thị thực sự lớn mạnh. Sự xen lẫn làng mạc trong thành thị với cả nếp sống làng xã tồn đọng ở người Thăng Long khiến xu hướng thẩm mĩ đô thị hóa chưa hoàn toàn được phát triển mạnh.

Những làng quê với cây đa, giếng nước, mái đình vẫn là hình ảnh cố hương gắn bó mật thiết, thân thương và gần gũi trong tâm tưởng của mỗi người dân trên mảnh đất Thăng Long phồn hoa đô hội.

Hà Phương

Đăng lúc: 10/03/2011 09:34

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối