Nghệ thuật tuồng - sự hình thành và phát triển

Những yếu tố trong tuồng như âm nhạc, múa hóa trang, phục trang…đều có tích cách điệu cao.

Đến thời nhà Lý, đầu thế kỷ XI, đã xuất hiện danh từ trò tuồng tại kinh đô Thăng Long. Đến thời nhà Trần, có hai hình thức ca diễn được phổ biến trong ca múa nhạc cung đình. Diễn viên mình trần, đeo mặt nạ nhào lộn, đánh võ trong loại hát cởi trần và hát giấu mặt.

Những trò hề, trò tuồng, hát cởi trần, hát giấu mặt… chắc chắn đã đóng góp và có ảnh hưởng tới việc xây dựng và định hình của bộ môn sân khấu ca kịch dân gian là tuồng, với hình thức ban đầu là cảnh tượng hoặc hoạt cảnh. Những cảnh tượng đó gồm các màn múa hát, đánh võ, trò khéo tạp kỹ và những vở hát có cốt truyện do diễn viên vẽ mặt biểu diễn.

Từ những cảnh tượng đó, tuồng phát triển và trở thành một hình thức ca diễn rất hấp dẫn, đến mức tới đầu thời Lê, trong những buổi yến tiệc, tế lễ hay thiết triều, đều cho gọi tuồng dân gian tới trình diễn cho vua quan xem. Qua một thời gian, đến thời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) hát tuồng lại được trọng vọng, nhưng đã chia làm hai luồng rõ rệt. Trong cung đình, vua quan bắt các đào kép hát tuồng diễn những tích Tam quốc, chia ra ba phe Ngô, Thục, Ngụy, vừa hát theo tích truyện vừa đâm chém nhau. Trong dân gian, tuồng lấy tên là hát bộ hoặc hát bội diễn những tích dân gian, biểu dương những anh hùng cứu nước, ca ngợi người trung quân ái quốc.

Trong giai đoạn hình thành và phát triển, trải qua mấy thế kỷ, dường như trong suốt mấy trăm năm trên đất Thăng Long, tất cả những sự việc trọng đại của đất nước đều được tái hiện trên sân khấu hát bộ, qua một số vở hát gọi là tuồng pho mà đề tài không bao giờ đi xa hai chủ đề: “vua băng, nịnh tiếm” và “phù vua phục nghiệp”. Tất cả các nhân vật chính diện trong hát tuồng thường bị đẩy vào những cảnh ngộ đầy thử thách, trải qua nhiều gian truân. Nhưng cuối cùng, người chính nghĩa bao giờ cũng thắng kẻ tà gian…

Các vở tuồng thường được viết bằng văn Nôm có rất ít chữ Hán. Cốt truyện và nhân vật thường dựa vào điển tích thời xa xưa hoặc có khi chỉ mượn tên các triều đại và địa danh của Trung Hoa cổ. Những vở tiêu biểu cho loại này là Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương với đặc điểm ca ngợi anh hùng liều chết về chính nghĩa, quên mình vì non sông.

Trước triều Nguyễn, hát tuồng đã phát triển ở Đàng Trong, còn ở Đàng Ngoài, nhất là tại đất Thăng Long, thì cả hai luồng tuồng đều phát triển, đó là loại tuồng dân gian mà tục vẫn gọi là hát bộ và tuồng cung đình. Từ khi triều Nguyễn dời đô vào Huế, thành lập nhà hát Duyệt Thị Đường trong Hoàng thành, và sau đó tới năm 1804, Tư Đức cho thành lập một ban tuồng cung đình gồm trên ba trăm đào kép, thì lúc ấy ở Hà Nội chỉ còn lại tuồng dân gian truyền thống với những tích rút từ các truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa…

Đến khoảng đầu thế kỷ XX, nhằm chiếm độc quyền tuồng Bắc (gọi như vậy để phân biệt với tuồng cung đình) bọn quan lại như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân đã lợi dựng loại ca kịch dân gian để bắt diễn những vở như Tây Nam đắc bằng, Tượng kỳ khí xa,…với nội dung phản động nhằm tuyên truyền và duy trì trật tự mới.

Để phản ứng lại, các gánh tuồng khác ở Hà Nội đã diễn những vở tuồng mới do những nhà yêu nước soạn như vở Trưng nữ vương của Phan Bội Châu, Đông A song phụng của Nguyễn Hữu Tiến, và Nga mao oán của Phan Xuân Thiện...

Cùng với chính sách thực dân của đế quốc Pháp, một luồng văn nghệ lãng mạn lan tới Việt Nam, ảnh hưởng đến mọi hình thức nghệ thuật dân tộc.

Để chiều theo thị hiếu khán giả Hà thành đương thời, tuồng Bắc đã chuyển hướng từ những vở đề cao anh hùng nghĩa sĩ sang những vở trữ tình lãng mạn, phỏng theo các truyện cổ Trung Quốc như Tái sinh kỳ ngộ, Anh hùng náo,…

Trong những năm 1925 - 1945, tuồng lại bị phân hóa một lần nữa trước sự bành trướng của cải lương Nam Bộ, tại Hà Nội. Sau thời kỳ diễn những vở trữ tình lãng mạn với quần áo thêu thùa cầu kỳ loè loẹt, với tên gọi tuồng cải cách (1900 - 1925), tuồng vẫn không đáp ứng được thị hiếu của khán giả Hà thành lúc đó đang ngưỡng mộ cải lương. Vì vậy, từ những năm 1930, tuồng cổ dần dần mất vị trí và khán giả nội thành, phải nhường chỗ cho tuồng Sài Gòn gọi là tuồng cải lương.

Trong khi đó ở ven nội và ngoài thành, các gánh tuồng dân gian vẫn được khán giả nông thôn ưa chuộng. Các gánh, các phường tuồng Cổ Loa, làng Vàng (Cổ Bi) Gia Lâm, các phường tuồng ở dọc sông Hồng thuộc huyện Thanh Trì…vẫn giữ nguyên truyền thống xưa với những tích cổ điển không bị lai căng, phong cách và diễn xuất vẫn giữ những nét dân gian của luồng tuồng Bắc đã trên hai thế kỷ đối lập với hát bộ cung đình.

Tuồng, hát bộ dân gian truyền thống là một sân khấu ước lệ, tượng trưng. Tất cả những yếu tố trong tuồng như âm nhạc, múa hóa trang, phục trang…đều có tích cách điệu cao.

Cũng như các sân khấu kịch hát dân tộc truyền thống khác, tuồng có hai lối biểu diễn bằng giọng điệu: nói và hát. Nhưng đặc biệt ở đây, vì nhu cầu sân khấu, các lối nói và hát không những phải tuân theo kỷ luật của âm điệu, tiết điệu, mà còn phải chú trọng đến cách phát âm nữa. Diễn viên phải tùy theo hoàn cảnh và nhận xét để sáng tạo những âm sắc riêng cho từng câu, từng chữ.

Tuồng Bắc rất chú trọng phần văn chương, dùng các loại văn xuôi văn vần và các thể thơ trong các vở hát. Tuồng còn là một loại kịch thơ phổ nhạc, được hát lên với sự hỗ trợ đắc lực của dàn nhạc và nhất là bộ gõ.

Khi phường tuồng diễn ở sân đình, còn có trống chầu đặt trước sân khấu cho những người am hiểu nghệ thuật dùng để khen chê ngay đương trường.

Nghệ thuật tuồng kết hợp ca hát với bộ điệu, vì vậy còn có tên là hát bộ. Múa trong tuồng là bộ điệu tượng trưng không giống như trong cuộc sống, nhằm biểu hiện cao độ nội tâm nhân vật, nhiều động tác đã cách điệu hóa tới mức thành những công thức có tính quy phạm.

Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là từ sau ngày giải phóng Thủ đô (1954), tuồng truyền thống đã được phục hồi và phát triển với nhiều vở diễn có giá trị được công chúng hâm mộ. Bằng tiếng nói riêng của mình, tuồng truyền thống đã góp phần làm phong phú thêm các loại hình sân khấu Hà Nội. Tuy nhiên, qua thời gian thử thách, tuồng truyền thống vẫn tự khẳng định là một loại hình mạnh, có ưu thế đối với các đề tài lịch sử (cải biên hoặc sáng tác mới), còn với các đề tài hiện đại thì sân khấu tuồng còn phải tiếp tục cố gắng tìm tòi sáng tạo nhiều hơn nữa, mới có thể giành được sự tán thưởng của đông đảo công chúng Thủ đô.

Diệu Anh

Đăng lúc: 12/03/2011 09:24

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối