Võ Nguyên Giáp - Nhà văn hóa lớn (Phần 1)

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trường hợp khá đặc biệt, thật hiếm có của cả Việt Nam và thế giới trong thế kỷ 20. Không chỉ lừng danh là một vị tướng thiên tài của tất cả các thời đại, ông còn được đánh giá là một trong những gương mặt sáng ngời của nền văn hóa Việt Nam.

    Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Trong tác phẩm “Võ Nguyên Giáp - Con người và huyền thoại” (Võ Nguyên Giáp-Man and Myth, New York, F.P.Publishers, 1962), nhà báo - nhà sử học Bernard Fall đã đánh giá rất xác đáng: “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào sánh kịp Võ Nguyên Giáp”.

Quả thật, con người và sự nghiệp của ông không chỉ tỏa sáng rực rỡ trên lĩnh vực quân sự. Nghiên cứu về ông, sẽ là một khiếm khuyết lớn nếu không nói đến những cống hiến có giá trị to lớn của ông trên mặt trận văn hóa-tư tưởng và một số lĩnh vực khác.

Không phải đương nhiên, Bác Hồ đã phân công thầy giáo trẻ dạy sử Võ Nguyên Giáp đảm trách công tác quân sự của Đảng, gợi ý ông lấy bí danh là “Văn”, bố trí ông sớm tham gia công tác với cương vị lãnh đạo cấp cao, có lẽ, Bác đã nhìn thấy trước, ước muốn và tin tưởng tương lai anh Văn sẽ trở thành một trong những nhà lãnh đạo quân đội tài đức, văn võ song toàn. Bởi “Văn” sẽ là biểu tượng của tính nhân văn cao đẹp trong văn hóa quân sự của một quân đội cách mạng kiểu mới, là truyền thống văn hóa giàu tình người của nền văn hóa và nền văn hiến của dân tộc ta.

Ngược dòng thời gian cho thấy tuổi niên thiếu của Võ Nguyên Giáp đã nảy nở rất sớm tinh thần yêu nước chân chính, tràn đầy nhiệt huyết cách mạng.

Ông sinh ngày 25-8-1911, xuất thân trong một gia đình trung nông tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, một làng quê hẻo lánh ở một huyện nghèo của một tỉnh vào loại nghèo nhất miền Trung. Quê hương và gia đình ông rất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm. Cha ông là một nhà nho, dạy học trong vùng, có uy tín với bà con xóm làng, thường kể chuyện cụ Phan Bội Châu và đọc cho ông nghe bài vè “Thất thủ Kinh đô”. Mẹ ông là cháu ngoại một vị lãnh binh tham gia phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi cuối thế kỷ 19, thường kể cho ông nghe về phong trào yêu nước này.

Năm 14 tuổi vào học bậc trung học ở Trường Quốc học Huế, ông đã hăng hái tham gia phong trào đòi “Ân xá” cho cụ Phan Bội Châu và phong trào truy điệu, để tang cụ Phan Chu Trinh. Khi cụ Phan Bội Châu được đưa về cấm cố ở Huế, cứ đến cuối tuần, ông lại cùng bạn bè cùng chí hướng như Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), bà Bội Lan, bà Thể Chi... đến nhà cụ Phan ở Bến Ngự để nghe cụ kể chuyện yêu nước thương nòi và chuyện canh tân đất nước.

Ông cùng các ông Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu hình thành một kiểu “câu lạc bộ” đọc các sách báo bí mật như Việt Nam hồn, Le Paria (Người cùng khổ), Bản án chế độ thực dân Pháp... Được xem bức ảnh Nguyễn Ái Quốc rất trẻ, đội mũ phớt, các ông rất khâm phục và ngưỡng mộ. Các ông cũng được đọc cuốn ABC du Maxisme (ABC chủ nghĩa Mác) ở nhà cụ Võ Liêm Sơn - một nhà giáo yêu nước, tiến bộ. Vậy là, từ yêu nước các ông đã đi đến với lý tưởng cách mạng cao đẹp một cách hết sức tự nhiên và hình thành nhóm thanh niên cộng sản trong tổ chức Tân Việt Đảng.

Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, ông được cử vào Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển Kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản, thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (về sau, tổ chức này hợp nhất với các tổ chức cộng sản khác thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930). Năm 1935, ông lại được cử vào Sài Gòn gặp nhóm đảng viên cộng sản hoạt động nửa công khai nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Ông bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Sau khi được trả tự do, ông ra Hà Nội dạy sử ở Trường Trung học tư thục Thăng Long, tiếp tục hoạt động cách mạng, cùng ông Phan Bôi viết báo cho Đảng. Bị mật thám theo dõi chặt nhưng ông luôn khéo léo, kín kẽ kể chuyện sử sách chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc ta và lịch sử nước Pháp, như cuộc Đại Cách mạng Pháp năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1791, cuộc đánh chiếm ngục Ba-xti v.v.. nhằm thổi vào tâm hồn học sinh lòng yêu nước thương nòi, chống đế quốc phong kiến.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các nhà báo nước ta trong đợt rút quân tình nguyện Việt Nam từ Cam-pu-chia về nước. Ảnh chụp tại Tây Nguyên (tháng 12-1989). Ảnh TL.

Năm 1939, với bút danh Vân Đình ông làm ở tờ báo Tiếng Dân và giữa năm 1940, ông cùng đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật sang Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc - người mà ông ngưỡng mộ đã từ lâu. Và từ đó, cuộc đời ông chuyển sang trang mới, cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp.

Thời cơ trực tiếp cách mạng đã đến! Ông cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Trường Chinh viết sách, báo động viên, tổ chức tập thể quần chúng đứng lên khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa đánh đổ quân phiệt Nhật, chế độ thực dân, phong kiến, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Các ông là những cây bút xung kích, những chiến sĩ đi tiên phong trên mặt trận văn hóa-tư tưởng của Đảng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc.

Được Bác Hồ phân công chuyên trách công tác quân sự của Đảng và thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, ông bắt tay khởi thảo và cùng các đồng chí Ban chỉ huy Đội: Hoàng Sâm, đội trưởng; Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) chính trị viên; Hoàng Văn Thái, cán bộ tham mưu thiết lập 10 lời thề, 10 điều kỷ luật của Đội và 12 điều kỷ luật đối với dân. Lời văn các văn bản này rất ngắn gọn, giản dị nhưng nội dung có sức thuyết phục rất to lớn, lay động lòng người, có giá trị như những lời huyết thệ thiêng liêng và là mệnh lệnh trái tim của người cầm súng, nội dung thể hiện đậm nét cả về bản chất chính trị và quan điểm văn hóa của một đội quân cách mạng kiểu mới. Ngày nay, các văn bản này đã được tu chỉnh trở thành lời thề danh dự, điều lệnh kỷ luật chính thức của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Về lĩnh vực văn hóa quân sự, đạo làm tướng đã chỉ dụ người cầm quân phải biết đau trước từng vết thương, biết tiếc từng giọt máu của tướng sĩ. Ông luôn tâm đắc và chuyển đến cán bộ thuộc quyền câu nói của Bác Hồ: “Không có trận thắng nào gọi là đẹp cả”. Không ít lần ông đã khóc trước những thương vong, tổn thất của đồng bào, chiến sĩ, không cầm được nước mắt trước sự hy sinh của học sinh, sinh viên ở dòng sông Thạch Hãn, Thành cổ Quảng Trị. Trước những chiến dịch, những trận đánh, ông thức thâu đêm suy tính chi ly tìm đủ cách giải bài toán tỷ lệ nghịch giữa thương vong và chiến thắng, nhằm tìm đáp số giành thắng lợi to lớn nhất nhưng hạ thương vong xuống mức thấp nhất.

Là Bí thư Quân ủy Trung ương, ông đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ quán triệt tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đạo lý, truyền thống văn hóa của nhân dân và Đảng ta. “Bộ đội Cụ Hồ” là hình ảnh tiêu biểu chủ nghĩa nhân đạo của Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội hết lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của dân tộc mình và láng giềng, bạn bè cùng cảnh ngộ, bao dung, độ lượng với kẻ thù, chiến đấu không chỉ vì độc lập, tự do của nước mình mà còn vì tình hữu nghị, hòa bình và tiến bộ xã hội của thế giới. Thực tiễn cho thấy, ít có một quân đội có được bản sắc và hành động văn hóa cao cả, tốt đẹp như quân đội ta.

Họa sĩ Lê Trí Dũng kể lại một câu chuyện của người “Anh cả quân đội” làm rạo rực lòng ta: Một ngày giáp Tết Nhâm Tý-1972 tại Ninh Bình, Sư đoàn 338 của anh được lệnh xuất quân vào chiến trường B. Đại tướng đến thăm chúc Tết và động viên đơn vị. Ông xuống xe đi bộ giữa hai hàng quân, vẫy tay chào. Đột nhiên ông dừng lại trước một người lính trẻ độ 16-17 tuổi, người nhỏ bé nhưng mặc bộ quân phục cỡ số 2 rộng thùng thình. Ông nở nụ cười ôn tồn hỏi:

- Đồng chí nhập ngũ bao lâu rồi?

- Báo cáo Đại tướng gần một tháng ạ.

- Thế đã học chào chưa?

Anh lính trẻ lúng túng chưa kịp trả lời, bỗng thấy Đại tướng dập gót chân đứng nghiêm và giơ tay chào. Anh lính trẻ bất thần đứng thẳng người chào đáp lại, đôi mắt rực sáng. Tiếng hô “... muôn năm!” vang dậy đất trời. Thật quá đỗi lạ lùng: Một Đại tướng Tổng Tư lệnh chào một anh binh nhì trước giờ xuất trận. Một cảnh tượng đẹp quá! Trong một đạo quân mà tình “Phụ tử chi binh” thân ái đến như vậy, thì người lính sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh vì một tấm lòng, một nghĩa cử văn hóa cao đẹp tuyệt vời của một chủ tướng anh minh.

Là người tổng chỉ huy quân đội, anh Văn hiểu rõ hơn ai hết cái giá phải trả của chiến tranh. Anh xem việc quý trọng sinh mạng con người không chỉ là vấn đề đạo đức, trách nhiệm mà còn là thước đo trình độ và phẩm chất văn hóa của người cầm quân.

Như chúng ta đã biết, sau năm 1975 không bao lâu, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng chuyên trách chỉ đạo về văn hóa, khoa học và cả công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Nhiều người thân tình băn khoăn lo lắng, sang làm công việc mới ông sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức lớn. Nhưng ông điềm nhiên vui vẻ trả lời: “Anh Bộ đội Cụ Hồ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành...”.

Bản lĩnh chính trị vững vàng của một nhà văn hóa lớn ở ông lại tỏa sáng rực rỡ. Được ông tiếp chuyện, Peter Macdonald - vị tướng và là nhà nghiên cứu lịch sử quân sự người Anh viết cuốn sách “Võ Nguyên Giáp - Một sự đánh giá” (Giap an assessment), xuất bản năm 1992 (Bản dịch tiếng Pháp là: Giáp - Hai cuộc chiến tranh Đông Dương) đã đánh giá rất xác đáng: “Về nhiều mặt, ông là người tổ chức hàng đầu của toàn thể dân tộc”.

(còn nữa)

HỒ NGỌC SƠN (tổng hợp)

Đăng lúc: 13/02/2011 13:09

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối