Thăng trầm nghề dệt the lụa La Khê

Làng La Khê có lịch sử từ thế kỷ thứ V, nghề trồng dâu, nuôi tằm, làm the lụa một thời đã khiến đất này nức tiếng gần xa. Mấy chục năm qua, với bao biến cố, thăng trầm có lúc the lụa La Khê tưởng như đã chìm vào dĩ vãng. Giờ đây dòng sản phẩm này đang được phục hồi và phát triển.

Nằm nép mình ở ngoại vi thành phố Hà Nội, phường La Khê (Hà Đông) một trong những vùng đất Tứ quý danh hương, nổi tiếng với đình làng La Khê nơi có hai di tích lịch sử văn hóa Bia Bà và Bia Thánh Sư thờ 10 ông tổ nghề the lụa người Trung Hoa.

Tương truyền gần 600 năm trước, các ông Tổ đời Minh đã sang dạy dân làng La Khê làm nghề the lua, đến đời nhà Nguyễn các ông được sắc phong “Dực bảo Tôn thần”. Nghề dệt the manh nha từ đó.

Ðến đầu thế kỷ 17, người Hán ở vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) sang Việt Nam mang theo nghề dệt thủ công. Trong số đó, có mười gia đình người Hoa đã đến lập nghiệp ở đất La Khê, đem nghề dệt the, sa nhuộm đen và công nghệ dệt tiên tiến dạy lại cho dân làng.

Nghề dệt the lụa ở làng La Khê nay là phường La Khê (quận Hà Ðông) phát triển rực rỡ vào thế kỷ 17, từng được ca tụng trong dân gian với câu ca “The La, lụa Vạn, chồi Phùng”.

Theo những bậc cao niên trong làng, vào thời hoàng kim, hầu hết dân trong làng đều sống bằng nghề canh cửi. Các sản phẩm the, sa, vân, địa, quế, gấm vóc của La Khê với những họa tiết, hoa văn tinh xảo. So với sồi, đũi, loại hàng the, sa mỏng, nhẹ hơn, nhưng lại rất bền và đẹp, được lựa chọn để may trang phục cho các tầng lớp quý tộc trong xã hội phong kiến xưa... Do vậy, năm 1823, Triều đình nhà Nguyễn đã lập La Khê thành một xưởng dệt cho Kinh thành Huế, cả làng được miễn đi lính để phục vụ phát triển nghề.

Chợ Cầu Đơ, một tháng sáu phiên là nơi mua bán the La Khê để từ đó thứ sản phẩm cao cấp này đi theo khắp dọc dài đất nước. Nghề dệt the ở La Khê phát triển mạnh, không những cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang châu Âu. Vào đầu thế kỷ 20, các nghệ nhân làng nghề còn được phong cửu phẩm, bá hộ và the làng La được mang triển lãm ở Paris.

Sau năm 1954, để dồn sức cho công cuộc cải tạo, xây dựng xã hội chủ nghĩa và chi viện cho chiến trường miền Nam, nghề dệt the tạm lắng, cả làng La Khê quay sang dệt vải bông, khăn mặt, thảm đay... phục vụ sinh hoạt trong thời chiến.

Ðất nước thống nhất, nhưng trước nhịp sống hiện đại, đòi hỏi sự tiện lợi thì các loại trang phục cũng thay đổi cho thích ứng, nghề dệt the của làng mai một dần, tưởng chừng như rơi vào quên lãng.

Cho đến năm 2002, nhờ có chính sách khuyến khích khôi phục làng nghề truyền thống của Nhà nước, cùng với quyết tâm phục hồi nghề Tổ, chính quyền địa phương và Ban Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp La Khê và những nghệ nhân trong làng đã bỏ ra nhiều công sức tìm lại sức sống cho nghề the lụa.

Tuy nhiên, việc khôi phục gặp muôn vàn khó khăn bởi không còn mấy người biết cách dệt the, khung dệt cũng không còn. Việc phục dựng nghề trông cậy phần lớn các nghệ nhân trong làng lúc này tuổi đều đã cao, tâm huyết với nghề, quyết truyền nghề truyền thống cho lớp con cháu.

Các nghệ nhân đã nhớ lại từng chi tiết cấu tạo, rồi phục chế khung dệt trên tinh thần vừa thừa kế, vừa cải tiến để trở thành cỗ máy vừa dễ vận hành, vừa cho năng suất cao.

Sau khi lắp đặt thành công và sản xuất được những tấm the đạt chất lượng, Hợp tác xã tiếp tục đầu tư hơn 200 triệu đồng, lắp đặt 11 máy dệt và mở lớp dạy nghề cho lao động trong làng.

Hiện ở La Khê còn cụ Nguyễn Công Toàn là nghệ nhân duy nhất của làng dệt the. Cụ là người tâm huyết với nghề được mời truyền lại bí quyết cho lớp trẻ. Những người thợ trẻ từ chỗ chưa bao giờ sờ tay vào khung dệt, sau vài tháng được các nghệ nhân chỉ bảo, truyền nghề, đã biết dệt thành thạo các mẫu hoa văn.

Trong số những học viên của cụ có anh Lê Đăng Toản, một người dường như có “duyên” với the La Khê đã tiếp thu rất nhanh nhạy. Từ chỗ chỉ vì tò mò mà học, giờ đây anh Toản đã sẵn sàng “sống chết” với nghề. Gặp khách đến, anh say sưa thuyết trình về từng công đoạn của nghề từ go sợi, lên máy, dựng máy đến thăm go, sô nan và đục bìa (vẽ hoa để dệt) ở từng mẫu hàng như the, sa, vân, xuyến , băng, là.

Theo cụ Toàn, sản phẩm của La Khê có các họa tiết, hoa văn rất tinh xảo. So với sồi, đũi, hàng the, sa mỏng và nhẹ hơn nhưng rất bền đẹp, được lựa chọn để may trang phục cho Vua Chúa xưa...

Nghề dệt the đòi hỏi rất nhiều công phu, có mẫu hàng phức tạp tới mức mất nửa năm mới dệt xong, nhanh nhất cũng phải hai tháng. Vẽ hoa để dệt được coi là một trong những công đoạn khó nhất của nghề bởi không chỉ như vẽ một bức tranh, người vẽ mẫu để dệt phải tính toán từng đường nét sao cho cân đối, lúc dệt lên tấm the không bị xô, bị dạt. Những người thợ dệt the La Khê phải vào tận Cố đô Huế xem các mẫu dệt để về khôi phục lại.

Công sức không phụ lòng người, đến nay, những người thợ dệt the La Khê đã sáng tạo ra hơn 20 mẫu hoa văn để dệt thành những tấm vải the hoa, trong đó có không ít những mẫu hoa văn cầu kỳ, với họa tiết cách điệu những hình tượng văn hóa dân gian như "tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "tứ quý" (tùng, cúc, trúc, mai) hay hình song hạc, mây trời, hoa sen, chữ thọ.

Năm 2007, sản phẩm the La Khê được trao Cúp vàng thương hiệu Việt tại Triển lãm Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Ðây là sự ghi nhận sự hồi sinh của làng nghề truyền thống./.

Lê Khải (tổng hợp)

Đăng lúc: 15/04/2011 16:08

Bản để in Lưu vào bookmarkKết nối nhà cung cấp đặc sản, nhà sản xuất, nhà phân phối